CÂY NGÔ VIỆT NAM

Sunday, August 4, 2024

Kết quả nghiên cứu transcriptomics và metabolomics tìm ra gen đích điều khiển tính chống chịu khô hạn của cây bắp non

 Kết quả nghiên cứu transcriptomics và metabolomics tìm ra gen đích điều khiển tính chống chịu khô hạn của cây bắp non

Nguồn: Yipu Li, Zhijun Su, Yanan Lin, Zhenghan Xu, Haizhu Bao, Fugui Wang, Jian Liu, Shuping Hu, Zhigang Wang, Xiaofang Yu, Julin Gao. 2024. Utilizing transcriptomics and metabolomics to unravel key genes and metabolites of maize seedlings in response to drought stress. BMC Plant Biol.; 2024 Jan 8; 24(1):34. doi: 10.1186/s12870-023-04712-y.

 

Stress khô hạn là hạn chế tăng trưởng và năng suất bắp, sự ấm lân tòn cầu và tần suất gia tăng của khí hậu cực đoan là kết quả của sự mất năng suất nhiều hơn trong tương lai. Do vậy, hiểu biết cặn kẽ về cơ chế phân tử giúp chúng ta biết được phản ứng của cây đối với khô hạn là điều cần thiết cho cải tiến giống chống chịu.

 

Theo nghiên cứu này, người ta tiến hành thí nghiệm cây bắp non, giai đọan 3 lá với 2 dòng cận giao, dòng chịu hạn (si287) và dòng mẩn cảm với khô hạn (X178), tất cả được xử lý stress khô hạn trong 7 ngày, thí nghiệm trong buồng cấy. Sau đó, người ta đo lường các tính trạng sinh lý, rồi phân tích phổ biểu hiện transcriptomic và metabolic của 2 dòng bắp cận giao ấy. Kết quả phân tích KEGG của gen và chất biến dưỡng (metabolites) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong lộ trình liên quan đến glycolysis/gluconeogenesis, sinh tổng hợp flavonoid, biến dưỡng tinh bột, biến dưỡng sucrose, sinh tổng hợp amino acids. Bên cạnh đó, kết quả phân tích tổng hợp xác định được proline, tryptophan và phenylalanine là những amino acids thiết yếu để bắp phản ứng với stress khô hạn. Hơn nữa, người ta tập trung xem xét tryptophan (Trp), nó làm tăng cường tính chống chịu thông qua tín hiệu IAA-ABA, cũng như SA và nicotinamide adenine dinucleotide (NAD) là kết quả lấy ra gốc ô xi tự do ROS (reactive oxygen species). Người ta xác định được ba “hub genes” trong sinh tổng hợp tryptophan, indole-3-acetaldehyde oxidase (ZmAO1, 542,228), catalase 1 (ZmCAT1, 542,369), và flavin-containing monooxygenase 6 (ZmYUC6, 103,629,142), Biểu hiện cao của những gen này đóng vai trò quan trọng trong điều tiết chống chịu khô hạn. Hai chất biến dưỡng liên quan đến tổng hợp tryptophan, quinolinic acid, và kynurenine cải tiến được tính chống chịu hạn của cây bắp thông qua lấy ra gốc ô xi tự do.

 

Nghiên cứu này làm rõ cơ chế giải thích được phản ứng của cây bắp non đối với stress khô hạn. Đặc biệt là xác định được những gen ứng cử viên và chất biến dưỡng, làm giàu kiến thức của chúng ta về vai trò của tryptophan đối với stress mặn. Việc xác định các biến dưỡng khác nhau về tính kháng trong những dòng bắp cận giao sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn trong khai thác nguồn gen cây bắp và cải tiến giống bắp lai chống chịu hạn.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38185653/

Kết hợp lập bản đồ QTL và GWAS để tìm gen đích điều khiển tính trạng số lá bao cùi bắp (maize husk)

 Kết hợp lập bản đồ QTL và GWAS để tìm gen đích điều khiển tính trạng số lá bao cùi bắp (maize husk)

Nguồn: Zhenjuan Liang, Na Xi, Tao Liu, Minglin Li, Mengxiang Sang, Chaoying Zou, Zhong Chen, Guangsheng Yuan, Guangtang Pan, Langlang Ma & Yaou Shen. 2024. A combination of QTL mapping and genome-wide association study revealed the key gene for husk number in maize. Theoretical and Applied Genetics; May 2024; vol.137; article 112

 

Hình: Lá bao cùi bắp (maize husk).

 

Hai gen đích Zm00001d021232 và Zm00001d048138 được phân lập thành công nhờ bản đồ di truyền QTL và phân tích GWAS. Bên cạnh đó, hai gen này được minh chứng về sự liên quan đáng kể đến tính trạng HN, số lá bao cùi bắp (maize husk number) thông qua kỹ thuật “gene-based association” (kiểu hình kết hợp trên cơ sở gen).

 

Là phụ phẩm của cây bắp, lá bao cùi bắp là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp. Số lá bao cùi bắp (HN) là tính trạng nông học quan trọngảnh hưởng đến năng suất lá bao. Tuy nhiên, cơ chế di truyền của tính trạng HN chưa được hiểu rõ. Nghiên cứu này phân tích 13 QTLsdiều khiển tính trạng HN thông quan quần thể IBM Syn 10 DH (đơn bội kép) tại nhiều địa điểm khác nhau. Trong đó, ba QTL được tìm thấy có tính chất lập lại trong cá thể ở ít nhất 2 địa điểm. Như vậy, người ta tìm thấy 26 chỉ thị phân tử SNPs độc nhất liên kết có ý nghĩa thống kê (p < 2.15 × 10–6) với tính trạng HN theo “association pool”. Trong các SNPs, có 3 markers được tìm thấy cùng một lúc qua nhiều địa điểm hoặc môi trường khác nhau và ghi nhận được giá trị dự đoán BLUP (best linear unbiased prediction). Người ta tập trung xem xét các loci này phải ổn định theo môi trường và có đặc điểm chung nhất trong quần thể để khai thác gen ứng cử viên có chức năng đối với tính trạng HN. Cuối cùng có 173 gen ứng cử viên được xác định, trong đó, 22 gen ứng cử viên có trong cả phát triển cơ quan đa bào và đơn bào, kế tiếp, người ta xác định được gen ứng cử viên của tính trạng HN. Phân tích “gene-based association” cho thấy các biến thể di truyền này trong bốn gen tương quan có ý nghĩa (p < 0.01/N) với HN, trong số đó, gen Zm00001d021232 và Zm00001d048138 biểu hiện mạnh mẽ nhất trong lá bao cùi bắp và râu bắp ở giai đoạn phát triển sớm tại nhiều mô khác nhau. Kết quả nghiên cứu góp phần giải thích cơ chế di truyền phân tử của lá vỏ bao cùi bắp phục vụ công nghiệp trong tương lai.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-024-04617-w

Phân tử 24-nt phasiRNAs trước gián phân giảm nhiễm trong hệ gen chi Zea và tính độc nhất trong cơ chế “biogenesis” cũng như chứ năng phân tử

 Phân tử 24-nt phasiRNAs trước gián phân giảm nhiễm trong hệ gen chi Zea và tính độc nhất trong cơ chế “biogenesis” cũng như chứ năng phân tử

Nguồn: Junpeng Zhan, Sébastien Bélanger, Scott Lewis, Chong Teng, Madison McGregor, Aleksandra Beric, Michael A. Schon, Michael D. Nodine, and Blake C. Meyers. 2024. Premeiotic 24-nt phasiRNAs are present in the Zea genus and unique in biogenesis mechanism and molecular function PNAS May 13, 2024; 121 (21) e2402285121

 

Trước đây người ta ghi nhận có hai lớp phân loại về reproductive phasiRNAs (phased, small interfering RNAs) trong hệ gen cây bắp, đó là premeiotic 21-nt (nucleotides) phasiRNAs và meiotic 24-nt phasiRNAs. Bây giờ, người ta ghi nhận một lớp thứ ba của reproductive phasiRNAs, có tên là premeiotic 24-nt phasiRNAs. Nó hiện diện trong chi Zea, bao gồm trong 5 dòng bắp cận giao và 3 dòng bắp thuộc loài phụ teosinte mà các tác giả đã xem xét, cộng thêm hệ gen cây lúa. Riêng với chi Zea, phân tử 24-nt phasiRNAs trước gián phân giảm nhiễm khác biệt rõ với 24-nt phasiRNAs gián phân đẳng nhiễm theo cơ chế kích hoạt (triggering mechanism), effector protein, và chức năng phân tử.

 

Reproductive phasiRNAs (phased, small interfering RNAs) hiện diện phổ biến trong in thực vật hạt kín (angiosperms) có vai trò quan trọng trong duy trì khả năng sinh sản của phấn hoa. Trong khi, phân tử 21-nt (nucleotides) phasiRNAs tiền gián phân giảm nhiễm và tiền gián phân đẳng nhiễm đã và đang được nghiên cứu rất sạu trong hệ gen cây bắp (Zea mays) cũng như cây lúa (Oryza sativa), một chuẩn mực giả đinh thứ ba của reproductive phasiRNAs, có tên là premeiotic 24-nt phasiRNAs vừa mới được công bố gần đây trên cây  lúa mạch (Hordeum vulgare), lúa mì (Triticum aestivum). Muốn xác định được premeiotic 24-nt phasiRNAs trong hệ gen cây bắp và loài có liên quan người ta tiến hành định tính đặc điểm “biogenesis” của chúng và chức năng, người ta hoàn thiện dữ liệu transcriptome so sánh và phân tích được degradome của bao phấn trước và trong gián phân đẳng nhiễm của 5 dòng bắp cận giao, 3 loài/loài phụ teosinte. Cở sở dữ liệu cho biết có một subset khá rõ tại loci của 24-nt phasiRNA trong cây bắp trồng và cây bắp teosinte biểu hiện mạnh mẽ trong pha “premeiotic”. Phân tử premeiotic 24-nt phasiRNAs giống với phân tử meiotic 24-nt phasiRNAs trong hệ gen gốc và dộc lập với DCL5 (Dicer-like 5) để thực hiện “biogenesis” (phát sinh học), tuy nhiên, phân tử premeiotic 24-nt phasiRNAs rất độc đáo, dường như (i) không bi6 kích hoạt bởi microRNAs, (ii) không bị nạp vào bởi AGO18 proteins, và (iii) không thể trung gian trong sự kiện cắt rời tiền chất PHAS. Bên cạnh đó, người ta còn ghi nhận một nhóm phân tử premeiotic 24-nt phasiRNAs trong cây lúa  có cơ sở dữ liệu khá đủ trước đây. Kết quả cho thấy phân tử premeiotic 24-nt phasiRNAs thiết lập nên một lới rất độc đáo của phasiRNAs sinh dục, hiện diện phổ biến trong họ Hòa Bản (Poaceae) nhiều hơn những gì mà chúng ta đã biết trước đây.

 

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2402285121

Khai thác cơ chế cân bằng hàm lượng phosphorus & tinh bột trong hạt bắp thông qua phân tích di truyền GWAS và cơ sở dữ liệu transcriptome

 Khai thác cơ chế cân bằng hàm lượng phosphorus & tinh bột trong hạt bắp thông qua phân tích di truyền GWAS và cơ sở dữ liệu transcriptome

Nguồn: Bowen Luo, Haiying Zhang, Zheng Han, Xiao Zhang, Jianyong Guo, Shuhao Zhang, Xianfu Luo, Jin Zhao, Wei Wang, Guohui Yang, Chong Zhang, Jing Li, Junchi Ma, Hao Zheng, Zirui Tang, Yuzhou Lan, Peng Ma, Zhi Nie, Yunjian Li, Dan Liu, Ling Wu, Duojiang Gao, Shiqiang Gao, Shunzong Su, Jia Guo & Shibin Gao. 2024. Exploring the phosphorus–starch content balance mechanisms in maize grains using GWAS population and transcriptome data. Theoretical and Applied Genetics; June 12 2024; vol.137; article 158

 

Xem xét mối quan hệ giữa P và các tín hiệu liên quan đến tinh bột có thể làm sáng tỏ sự cân bằng giữa dinh dưỡng và năng suất. Người ta tiến hành sử dụng 307 dòng bắp cận gia rất đa dạng nhằm thực hiện những khảo nghiệm nhiều năm, nhiều địa điểm, để khai thác mối liên quan giữa hàm lượng P, hàm lượng tinh bột, khối lượng 100 hạt (HKW) của hạt bắp trưởng thành.

 

Tương quan nghịch rất chặt chẽ giữa hàm lượng P và hàm lượng tinh bột, cũng như tính trạng HKW, trong khi đó, tương quan thuận có ý nghĩa giữa hàm lượng tinh bột với HKW. Hạt tinh bột có P cao và hàm lượng tinh bột thấp (HPLS) thường nhỏ hơn đáng kể so với hạt có P thấp, tinh bột cao (LPHS). Bên cạnh đó, mian04185-4 (HPLS) biểu hiện tinh thể hạt tinh bột không đều và kết cấu lỏng lẻo. Sự giảm đáng kể  việc biểu hiện các gen ZmPHOs được tìm thấy trong dòng bắp HPLS như ZNC442 (tinh bột thấp) so với dòng bắp LPHS như SCML0849 (tinh bột cao), trong khi đó, không khác biệt trong biểu hiện gen mã hóa AGPase giữa các dòng bắp này. Gen điều tiết theo kiểu “down” trong hạt giống bắp ZNC442 khá phong phú trong nucleotide sugar và lộ trình anabolic của acid béo, trong khi, gen điều tiết theo kiểu “up” rất phong phú trong lộ trình ABC transporters. Sự phân hủy chất béo tăng lên khi hàm lượng P tăng được ghi nhận. Điều này khẳng định HPLS (tinh bột thấp) là kết quả của sự phân hủy lipid tăng và nguồn carbon không đủ. Kết quả GWAS xác định được 514 gen liên quan có ý nghĩa, có 248 gen trong số đó biểu hiện khác biệt. Zm00001d052392 gắn liền có ý nghĩa với hàm lượng P/HKW, thể hiện sự biểu hiện mạnh mẽ của SCML0849 (bắp tinh bột cao) nhưng hầu hết là không thể hiện trong ZNC442 (bắp tinh bột thấp). Kết quả cho thấy cách tiếp cận mới về sự cân bằng giữa P và năng suất thông qua thao tác trong chu trình biến dưỡng lipid ở trong hạt bắp.

 

Xemhttps://link.springer.com/article/10.1007/s00122-024-04667-0

Membralin rất cần thiết cho cây bắp phát triển; một nhánh của chu trình phân giải gắn ở võng nội chất thực vật

 Membralin rất cần thiết cho cây bắp phát triển; một nhánh của chu trình phân giải gắn ở võng nội chất thực vật

Nguồn:Baiyu Liu, Changzheng Xu, Qiuxia He, Ke Zhang, Shoumei Qi, Zhe Jin, Wen Cheng,

 Zhaohua Ding, Donghua Chen, Xiangyu Zhao, Wei Zhang, Kewei Zhang, and Kunpeng Li. 2024.

Membralin is required for maize development and defines a branch of the endoplasmic reticulum–associated degradation pathway in plants. PNAS; June 12, 2024; 121 (25) e2406090121; https://doi.org/10.1073/pnas.2406090121

 

Hệ vận hành màng võng nội chất ERAD [endoplasmic reticulum) (ER)-associated degradation] làm tăng cường trạng thái sinh lý “protein homeostasis” điều khiển bởi giảm đi những gấp cuộn đại phân tử protein bất thường hoặc không cần thiết, mà điều ấy cần “ER membrane-embedded complexes” tập hợp xung quanh men E3-ubiquitin ligases. Người ta tìm thấy ZmNLD1 mã hóa ER membrane–localized protein membralin và tương tác đặc biệt với RING domain-containing E3-ubiquitin ligases RNF185 và RNF5, hình thành nên một nhánh của chu trình ERAD  rất cần cho sự phát triển của cây bắp, độc lập với HRD1 kinh điển và Doa10 ERAD complexes. Kết quả của sự thiếu “membralin” làm tổn thương sự phát triển lá bên trong, làm chậm sự hình thành rễ, và làm cây bắp lùn xuống. Nhiều dòng bắp có triệu chứng ấy cho thấy ZmNLD1 có những modes giống nhau khi hoạt động trong ERAD với các đồng dạng của nó trong loài có vú, cho thấy rằng có sự bảo tồn trong quá trình tiến hóa của nhánh  membralin-mediated ERAD giữa động vật và thực vật.

 

 

ERAD [Endoplasmic reticulum (ER)–associated degradation] có vai trò quan trọng trong điều khiển các mức độ biểu hiện protein và phẩm chất của sinh vật eukaryotes. Protein RNF185 là “Ring Finger Protein 185 / membralin ubiquitin ligase complex mới gần đây được xác định là một nhánh của động vật có vú và rất cần thiết cho chức năng thần kinh, tuy nhiên, chức năng của nó trong phát triển thực vật chưa rõ. Các tác giả này ghi nhận map-based cloning và định tính đặc điểm của gen NLD1 (Narrow Leaf and Dwarfism 1), mã hóa protein có tên là ER membrane–localized protein membralin và tương tác hết sức đặc biệt với gen đồng dạng trong cây bắp RNF185 với các thành liên liên quan. Đột biến nld1 cho thấy có sự khiếm khuyết của lá rễ khi phát triển với số tế bào suy giảm. Sự khiếm khuyết của gen nld1 phần lớn được khôi phục bởi biểu hiện của membralin genes từ cây mô hình Arabidopsis thaliana và chuột, phác họa vai trò bảo bồn  của membralin proteins của động vật và thực vật. Sự tích tụ rất nhiều β-hydroxy β-methylglutaryl-CoA reductase trong cây đột biến nld1 cho thấy enzyme này là một mục tiêu của membralin-mediated ERAD. Hoạt động protein không gấp cuộn bZIP60 mRNA splicing đáp ứng với truyền tín hiệu và biểu hiện gen marker trong cây đột biến nld1, cũng như đoạn phân tử DNA và xét nghiệm sinh học “cell viability”, tất cả cho thấy thiếu membralin làm kích thích stress của Ervà làm tế bào chết trong cây bắp, đo vậy, ảnh hưởng đến phát sinh cơ quan. Kết quả khẳng định vai trò bảo tồn và vô cùng cần thiết của một nhánh membralin trong chu trình ERAD  của thực vật. ZmNLD1 góp phần vào kiến trúc cây theo kiểu cách mà nó phụ thuộc,  nó có thể  là một mục tiêu tiềm năng của công nghệ di truyền nhằm định hình cấu trúc cây trồng lý tưởng, nâng cao năng suất bắp trồng mật độ cao.

 

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2406090121

Kiến trúc tán lá thông minh của cây bắp làm tăng năng suất, mật độ trồng cao

 Kiến trúc tán lá thông minh của cây bắp làm tăng năng suất, mật độ trồng cao

Nguồn: Jinge Tian, Chenglong Wang, Fengyi Chen, Wenchao Qin, Hong Yang, Sihang Zhao, Jinliang Xia, Xian Du, Yifan Zhu, Lishuan Wu, Yan Cao, Hong Li, Junhong Zhuang, Shaojiang Chen, Huayuan Zhang, Qiuyue Chen, Mingcai Zhang, Xing Wang Deng, Dezhi Deng, Jigang Li & Feng Tian. 2024. Maize smart-canopy architecture enhances yield at high densities. Nature (2024); Published: 12 June 2024

 

Gia tăng mật độ cây trồng trên diện tích là chiến lược chủ chốt làm tăng năng suất bắp. Mật độ cây trồng lý tưởng được người ta gọi là ‘smart canopy’ (tán lá thông minh) với các góc lá ở tán lá khác nhau tối ưu hóa để làm tăng ánh sáng truyền qua tốt nhất cũng như quang hợp như mong muốn. Ở đây, người ta xác định leaf angle architecture of smart canopy 1 (lac1), một đột biến gen tự nhiên có ở những lá bắp trên cùng , lá ở giữa ít thẳng đứng hơn và lá dưới cùng tương đối ngang bằng. Gen đột biến lac1 đã và đang cải tiến được khả năng quang hợp đáng kể, làm suy yếu phản ứng “shade-avoidance” (tránh tán che) khi trồng bắp mật độ dầy. 

 

Gen lac1 mã hóa brassinosteroid C-22 hydroxylase mà enzyme này ưu tiên điều tiết tính trạng góc lá trên cùng. Thụ thể ánh sáng tên là “phytochrome A” (photoreceptors) tích tụ nhiều trong bóng râm và tương tác với protein TF có tên RAVL1 để làm tăng sự thoái hóa thông qua 26S proteasome, đo đó, tiết giảm được hoạt động của RAVL1 của gen lac1 và làm giảm mức độ brassinosteroid. Điều này làm giảm mạnh mẽ góc lá trên cùng trong cánh đồng trồng mật độ dầy. Thí nghiệm đại trà trên ruộng bắp chỉ ra rằng lac1 làm tăng năng suất bắp khi trồng dầy. Du nhập nhanh gen lac1 vào nguồn vật liệu bố mẹ, người ta đã làm chuyển đổi inducer của dòng haploid và phục hồi chỉnh sửa lac1 đồng hợp tử từ 20 dòng cận giao đa dạng. Dòng đơn bội kép được thử nghiệm rất cần có một kiến trúc theo kiểu tán lá thông minh. Tác gia cung cấp mục tiêu khá rõ và một chiến lược đang phát triển để có giống bắp cao sản chịu được mật độ trồng dầy, với gen lac1 như một công cụ di truyền để thao tác trong việc hình hành tán lá thông minh của bắp.

 

Xem https://www.nature.com/articles/s41586-024-07669-6

Yếu tố phiên mã ZmDof22 làm tăng tính chống chịu hạn nhờ điều tiết đóng mở khí khổng và hoạt tính enzyme “antioxidant” của cây bắp (Zea mays L.)

 Yếu tố phiên mã ZmDof22 làm tăng tính chống chịu hạn nhờ điều tiết đóng mở khí khổng và hoạt tính enzyme “antioxidant” của cây bắp (Zea mays L.)

Nguồn: Liru Cao, Feiyu Ye, Abbas Muhammad Fahim, Chenchen Ma, Yunyun Pang, Xin Zhang, Qianjin Zhang & Xiaomin Lu. 2024. Transcription factor ZmDof22 enhances drought tolerance by regulating stomatal movement and antioxidant enzymes activities in maize (Zea mays L.). Theoretical and Applied Genetics; June 2024; vol. 137; article 132

 

Gen Dof22 mã hóa protein có bản chất kết gắn  deoxyribonucleic acid với một “finger” trong cây bắp, mà protein này có liên quan đến đến tính chống chịu khô hạn. Việc xác định các gen điều tiết phản ứng với stress khô hạn vô cùng cần thiết để cải tiến di truyền năng suất bắp. Kết gắn “deoxyribonucleic acid” với một finger (Dof), họ protein chức năng yếu tố phiên mã đặc biệt của thực vật, có trong cơ chế truyền tín hiệu, phát sinh hình thái, và phản ứng với stres bên ngoài. Theo nghiên cứu này, thông qua phân tích hệ tương quan WGCNA (weighted correlation network analysis) và phân tích phổ đồng biểu hiện của gen, có 15 gen giả định Dof được xác định trong cây bắp, chúng phản ứng với khô hạn và phục hồi khi tưới trở lại. Kết quả “real-time fluorescence quantitative PCR” cho thấy 15 gen này được kích hoạt mạnh mẽ nhờ khô hạn và xử lý ABA. Trong số đó, gen ZmDof22 bị kích hoạt mạnh nhất bởi khô hạn và xử lý ABA. Mức độ biểu hiện của gen này tắng gần 200 lần sau khi bị stress hạn và hơn 50 lần sau khi xử lý ABA. Sau khi bình thường lại điều kiện trồng, mức độ biểu hiện gen gần 100 lần và 40 lần đối với 2 nghiệm thức nói trên, theo thứ tự. Hệ thống Gal4-LexA/UAS và kết quả phân tích hoạt động phiên mã cho thấy gen ZmDof22 là một activator phiên mã điều tiết tính chống chịu khô hạn và tính trạng khả năng phục hồi của cây bắp. Hơn nữa, cây transgenic có biểu hiện mạnh mẽ và cây đột biến gen ZmDof22 qua hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9, cho thấy gen ZmDof22 này giúp cây bắp cải thiện được tính chống chịu hạn  thông qua kích hoạt đóng lại khí khổng, giảm mất nước, tăng cường hoạt tính enzyme “antioxidant” thông qua kết hợp với lộ trình ABA. Kết quả đặt nền tảng kiến thức về chức năng có chiều sâu của họ gen ZmDof  và cunbg cấp một luận điểm về vai trò của hệ thống điều tiết ZmDof22 trong quản lý cây chịu hạn và khả năng phục hồi của cây bắp.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-024-04625-w