CÂY NGÔ VIỆT NAM

Monday, April 6, 2026

Chỉnh sửa gen ZmPL1 nhờ hệ thống CRISPR-Cas9 cải tiến tính trạng chống chịu khô hạn của cây bắp

 Chỉnh sửa gen ZmPL1 nhờ hệ thống CRISPR-Cas9 cải tiến tính trạng chống chịu khô hạn của cây bắp

Nguồn: Chunlai WangYangyang ZhouYimeng WangPeng JiaoSiyan LiuShuyang GuanYiyong Ma. 2025. CRISPR-Cas9-mediated editing of ZmPL1 gene improves tolerance to drought stress in maize. GM Crops Food; 2025 Dec; 16(1):1-16. doi: 10.1080/21645698.2024.2448869. 

Bắp (Zea mays L.) là cây lương thực được trồng rộng khắp trên thế giới. Khô hạn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng và phát triển của cây bắp, gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đến năng suất. Vào giai đoạn ban đầu, nhóm nghiên cứu này đã thực hiện phân tích transcriptome sequencing trên dòng bắp cận giao kháng hạn H8186 và sàng lọc di truyền tìm một gen biểu hiện điều tiết “down”, Phylloplanin-like (ZmPL1). Gen ZmPL1 biểu hiện được người ta phân tích dưới điều kiện thử nghiệm nhiều stress phi sinh học khác nhau, kết quả là gen này bị ảnh hưởng rất lớn bởi khô hạn. Phân tích “subcellular localization” cho thấy sản phẩm protein của gen định vị ở màng tế bào. Muốn làm rõ vai trò của gen ZmPL1 trong xử lý stress khô hạn, tác giả cho biểu hiện mạnh mẽ gen ZmPL1 trong nấm men (yeast) và thấy rằng biểu hiện của ZmPL1 có thể tăng đáng kể ở nấm men nhạy cảm với hạn hán. Tiếp theo, cây bắp transgenic ZmPL1 được thu thập thông qua mô sẹo có xử lý nhờ chuyển nạp gián tiếp qua vi khuẩn Agrobacterium. Trong điều kiện stress khô hạn, người ta so sánh với các dòng bắp biểu hiện gen đích mạnh mẽ,  dòng bắp có chỉnh sử gen biểu biện tỷ lệ nẩy màm rất cao và tỷ lệ cây bắp non sống sót cao hơn đối chứng, tích tụ hàm lượng thấp hơn MDA, độ dẫn tương đối (relative conductivity) và ROS, hoạt tính men antioxidant cao; các mức độ biểu hiện của gen liên quan đến stress và gen liên quan đến ROS đều tăng có ý nghĩa. Thử nghiệm ngoại sinh chất ABA trên mỗi dòng bắp khi xử lý stress khô hạn đều cho thấy thiệt hại tiết giảm nhiều trên dòng bắp có gen ZmPL biểu hiện mạnh mẽ. Tóm lại, ZmPL1 điều tiết tiêu cực tính chịu khô hạn trong cây bắp.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39819332/

Thành tựu công nghệ dòng kích tạo đơn bội trên ngô tại Việt Nam và trên thế giới

 Thành tựu công nghệ dòng kích tạo đơn bội trên ngô tại Việt Nam và trên thế giới

Hà Văn Giới1*,Nguyễn Xuân Thắng1, Lương Thái Hà1, Nguyễn Đức Thành1, Nguyễn Thị Như Quỳnh1

DOWNLOAD

TÓM TẮT

Công nghệ đơn bội kép (Doubled haploid, DH) được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong chọn giống ngô. Bằng cách tận dụng khả năng tạo ra dòng thuần chủng 100% chỉ trong hai chu kỳ chọn tạo ngắn và khả năng cố định kiểu gen mong muốn trên một bộ nhiễm sắc thể mà không phụ thuộc vào sự biểu hiện trội hay lặn của gen, kỹ thuật DH hỗ trợ hiệu quả cho nhiều phương pháp chọn giống mới như chỉnh sửa gen (genome editing), chuyển gen bất dục đực tế bào chất.

Với những hiểu biết mới nhất về cấu trúc di truyền của các gen kích thích tạo đơn bội và các QTL liên quan, sự kết hợp của nhiều chỉ thị kiểu hình với chỉ thị R1-nj để xác định chính xác các cá thể giả định là đơn bội, các phương pháp mới, cải tiến hơn để nhân đôi nhiễm sắc thể an toàn hơn, tiết kiệm chi phí và cải thiện tỉ lệ kích thích tạo đơn bội (HIR), công nghệ DH ngày càng tiềm năng trong chọn tạo giống ngô. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu sâu rộng và sự hợp tác của các nhà khoa học toàn cầu, công nghệ DH vẫn đối mặt với nhiều thách thức.

Bài viết này tổng quan các nghiên cứu mới nhất về công nghệ kích tạo đơn bội trên ngô trên các tạp chí, sách và báo cáo hội nghị trong và ngoài nước về công nghệ DH, bao gồm tầm quan trọng của việc cải tiến các bước nghiên cứu, tiềm năng ứng dụng trong tương lai và những thách thức hiện nay trên thế giới và Việt Nam.

Từ khóa: DH, đơn bội kép, dòng kích tạo đơn bội

Saturday, April 4, 2026

Nghiên cứu transcriptomics có tính so sánh của tính trạng tích tụ anthocyanin accumulation ở vỏ hạt bắp tím

 Nghiên cứu transcriptomics có tính so sánh của tính trạng tích tụ anthocyanin accumulation ở vỏ hạt bắp tím

Nguồn: Anderson A. HollyPaulsmeyer N. Michael & Juvik A. John. 2026. Comparative transcriptomics of anthocyanin accumulation in the pericarp of pigmented purple cornTheoretical and Applied Genetics; January 17 2026; vol. 139; article 37

Kỹ thuật RNA-seq, bulked segregant analysis, định lượng anthocyanin, và WGCNA đã xác định được Pl1, Lc1, P1, và Wrky33 là những yếu tố điều tiết quan trọng để tăng cường hàm lượng anthocyanin của vỏ quả ngô (maize pericarp). Anthocyanins là sắc tố thực vậtcó thể được sử dụng làm màu thực phẩm tự nhiên (natural food colorants). Người ta phát triển dòng bắp Midwestern, có màu tím với hàm lượng anthocyanin gia tăng một cách độc đáo với tế bào mô vỏ hạt: hai dòng bắp near-isogenic cho ra dòng cận giao ưu việt B73  Mo17 (B73 đã chuyển đổi màu và Mo17 đã chuyển đổi màu, theo thứ tự) cộng với hai dòng cận giao tái tổ hợp (RILs) với phổ biểu hiện anthocyanin đa dạng (Amazonas và Maize Morado). Trong thí nghiệm 1, một “time-series”, phân tích RNA-sequencing (RNA-seq) của hầu hết mô vỏ hạt bắp được tiến hành trên 3 dòng bắp có màu (B73 Color Converted, Amazonas, và Maize Morado). Kết quả xét nghiệm UHPLC (Ultra-High-Pressure Liquid Chromatography: sắc ký lỏng siêu cao áp) xác định được một sự gia tăng đáng kể anthocyanin tích lũy giữa thời kỳ 15 và 20 ngày sau khi tung phấn (DAP) của dòng bắp có màu. Kết quả phân tích BSA (bulk segregant analysis) phát hiện được Leaf color1 (Lc1 Purple plant1 (Pl1) như những nguồn đóng góp chínhtạo nên màu sắc vỏ hạt bắp của dòng bắp B73 Color Converted. Những loci bổ sung Bronze2 (Bz2 Pericarp color1 (P1) cũng được cho tính trạng bởi bố mẹ có màu tím. Trong thí nghiệm 2, kết quả RNA-seq thực hiện trên hạt ngô ở 18 ngày sau khi tung phấn (DAP) từ bốn dòng bắp có sắc tố (B73 Color Converted, Mo17 Color Converted, Amazonas, và Maize Morado), rồi so sánh màu sắc và  thành phần vỏ hạt bắp không sắc tố từ trộn lại các hạt của nhiều cá thể. Điều tiết theo kiểu “up” của gen Lc1Pl1, và P1 cho thấy phức hợp protein MBW rất khác biệt trong vỏ hạt bắp có màu. Phân tích tương quan của các phần vỏ hạt sau 18 ngày bắp tung phấn (18 DAP pigmented pericarp fractions) cho thấy biểu hiện mạnh mẽ của những “anthocyanin transporters”, Bz2  Multidrug resistance-associated protein3 (Mrpa3), bên cạnh, có một TF ứng cử viên  với thuật ngữ: WRKY-transcription factor 33 (Wrky33). Những gen ứng cử viên này có thể được dùng  trong chương trình lai tại giống bắp như một nguồn vật liệu tự nhiên làm phẩm màu thực phẩm và đồ uống, cải tiến cách suy nghĩ của chúng ta về cơ chế hình thành màu sắc vỏ hạt bắp.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-025-05137-x

Phát hiện bất ngờ dẫn đến cơ chế kiểm soát thụ phấn tiềm năng cho ngô non

 Phát hiện bất ngờ dẫn đến cơ chế kiểm soát thụ phấn tiềm năng cho ngô non

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo Đại học bang Iowa

Ngô non, về cơ bản là những bắp ngô non chưa thụ phấn, là một loại thực phẩm đặc sản đang thu hút sự chú ý nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao và lượng calo thấp. Nó cũng có giá trị kinh tế đáng kể như một loại cây trồng mang lại lợi nhuận nhanh chóng với thị trường toàn cầu. Hiện nay, Thái Lan là nhà sản xuất ngô non lớn nhất, với giá trị ước tính hàng năm là 64 triệu đô la.

Chất lượng và hương vị của bắp non bị giảm đáng kể do quá trình thụ phấn. Để ngăn ngừa thụ phấn, nông dân phải dựa vào công đoạn khử đực tốn nhiều công sức và chi phí để loại bỏ hoa đực khỏi cây ngay từ giai đoạn đầu sinh trưởng, trước khi chúng phát tán phấn hoa để thụ tinh cho bắp và tạo hạt. Một giải pháp thay thế đầy hứa hẹn cho vấn đề tắc nghẽn này đã được các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Iowa, những người nghiên cứu về lai tạo giống ngô, phát hiện. 

 “Hiện tượng ức chế sinh trưởng làm râu bắp phát triển kém”

Họ đã phát triển một biến thể gen mới dẫn đến hiện tượng "sợi tơ/râu bắp còi cọc". Cơ chế kiểm soát thụ phấn bằng gen mới này gần đây đã được công bố trên tạp chí  Plant Physiology.  

“Trong quá trình nghiên cứu đặc điểm của gen và các đột biến của chúng vì những lý do khác, chúng tôi đã quan sát thấy một đột biến dẫn đến sự giảm đáng kể số lượng râu ngô. Những sợi râu ngắn này chủ yếu phát triển bên trong vỏ ngô, làm giảm cơ hội thụ phấn”, Siddique Aboobucker, một nhà khoa học tại Đại học bang Iowa vào thời điểm nghiên cứu và hiện là trợ lý giáo sư tại Đại học Kentucky, cho biết. Đặc điểm độc đáo này của râu ngô ngắn và còi cọc có liên quan đến việc xóa bỏ gen ZmBMF2 bằng phương pháp chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9. 

Giống ngô biến đổi gen vẫn có râu ngô, mặc dù chúng rất ngắn và hiếm khi vươn ra khỏi vỏ. Trong suốt bốn năm nghiên cứu, râu ngô chỉ mọc ra khỏi vỏ trong một năm duy nhất, và số lượng cũng không đủ để thụ phấn và tạo hạt. Phát hiện này có thể mở đường cho một cơ chế kiểm soát thụ phấn thay thế, đặc biệt hữu ích cho việc sản xuất ngô non. 

Tuy nhiên, nếu loại bỏ lớp vỏ bi, cây vẫn có thể thụ phấn và tạo ra hạt giống – một yếu tố quan trọng cho các chương trình lai tạo giống trong tương lai, theo các nhà nghiên cứu. Họ cũng phát hiện ra rằng đột biến này không ảnh hưởng đến các đặc điểm khác liên quan đến năng suất, chẳng hạn như số hàng hạt hoặc chiều dài bắp.  

“Cơ sở sinh học của quá trình phát triển râu bắp vẫn còn ít được nghiên cứu”

“Sinh học về sự phát triển của râu ngô vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu chưa được khám phá đầy đủ, mặc dù tầm quan trọng của nó rất lớn”, Thomas Lübberstedt, giáo sư KJ Frey về Nông học, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết. “Chỉ có hai đột biến gen liên quan đến sự phát triển của râu ngô được xác định. Giờ đây, chúng tôi đã tìm thấy một gen liên quan đến sự phát triển tối thiểu của râu ngô. Điều này rất thú vị vì tiềm năng mang lại lợi ích cho một ngành nông nghiệp thay thế. Nó cũng có những ý nghĩa rộng hơn đối với công tác lai tạo giống ngô và công nghệ sinh học thực vật, cần được nghiên cứu thêm”.  

Ví dụ, ngô biến đổi gen cũng cho thấy khả năng làm chậm quá trình “lão hóa”, tức là quá trình phát triển và lão hóa tế bào. “Điều này có thể mở ra một hướng đi mới để kiểm soát thời gian sản xuất tốt hơn, mang lại khả năng thích ứng cao hơn với điều kiện môi trường ở các vùng trồng trọt khác nhau”, Aboobucker nói.

Những khám phá bất ngờ

Các nhà nghiên cứu ghi nhận hiện tượng ‘râu bắp phát triển kém’ khi khảo sát khả năng hữu thụ đực ở thể đơn bội, một nội dung thuộc di truyền học ngô gắn liền với việc tạo dòng thuần.

“Đôi khi trong nghiên cứu, bạn sẽ tìm thấy những kết quả thú vị mà bạn không ngờ tới và chúng có thể dẫn đến những phát hiện quan trọng”, Lübberstedt nói. “Điều đó đòi hỏi một cách tiếp cận sáng tạo, dựa vào trực giác và sự kiên nhẫn, vì hầu hết các trường hợp đều cần phải đào sâu hơn và tiến hành thêm các thí nghiệm. Trong trường hợp này, phát hiện này có tiềm năng thực sự dẫn đến một hướng nghiên cứu mới và các sản phẩm mới”. 

Dự án này được tài trợ một phần bởi Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Viện Khoa học Thực vật cùng Trung tâm Kỹ thuật Sinh học Cây trồng của Đại học Bang Iowa. Nghiên cứu trong tương lai nhằm kiểm tra tính khả thi của đặc điểm râu ngô ngắn này trong nguồn gen ngô non Ấn Độ được hỗ trợ chung bởi các khoản tài trợ từ NSF và Bộ Công nghệ Sinh học, Chính phủ Ấn Độ. 

“Quá trình khám phá để mở ra những cánh cửa mới và cơ hội kinh tế rất bổ ích và thú vị”, Aboobucker nói. “Chúng tôi may mắn có được nguồn tài trợ hỗ trợ nghiên cứu tiên tiến, cho phép chúng tôi linh hoạt theo đuổi những phát hiện bất ngờ”.

Friday, April 3, 2026

Một số công nghệ trong chọn giống ngô trên thế giới và triển vọng tại Việt Nam

Một số công nghệ trong chọn giống ngô trên thế giới và triển vọng tại Việt Nam

Nguyễn Xuân Thắng¹, Lê Văn Hải¹, Bùi Mạnh Minh¹, Hoàng Kim Thoa¹, Nguyễn Chí Thành¹*

DOWNLOAD

TÓM TẮT

Cây ngô (Zea mays L.) là cây trồng có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng và phát triển kinh tế toàn cầu và ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng trong chọn tạo giống ngô, bao gồm chọn giống phân tử, chọn lọc hệ gen, chỉnh sửa gen, chuyển gen, công nghệ phân tích sinh học phân tử, tin sinh học và trí tuệ nhân tạo. Nhằm thúc đẩy mạnh mẽ chương trình nghiên cứu và chọn tạo giống ngô ưu việt, yêu cầu đặt ra là cần có thêm các công trình nghiên cứu tổng hợp, phân tích và đánh giá một cách hệ thống, khách quan về hiệu quả và tiềm năng của những công nghệ đã và đang được triển khai thành công trên thế giới. Việc tổng hợp chi tiết các công trình khoa học đã được công bố sẽ góp phần xây dựng một cơ sở dữ liệu có độ tin cậy và giá trị khoa học cao. Nguồn tài liệu này sẽ là nền tảng quan trọng để các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp tại Việt Nam đánh giá triển vọng, tính khả thi về mặt kỹ thuật của việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến này vào thực tiễn chọn tạo giống và sản xuất ngô trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay.

Từ khóa: Công nghệ, nghiên cứu, chọn giống, triển vọng, cây ngô

Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.

 Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.

Nguồn: Bujin ZhouShaoli WeiJiaming QinJiaxing ZhengBingwei WangXiu ZhongAnxia HuangJingdan HeChengqiao Shi. 2026. Integrated transcriptomics and metabolomics analyses reveal key pathway responses during the grain-filling stage in maize under waterlogging stressFront Plant Sci.; 2026 Jan 19: 16:1698890. doi: 10.3389/fpls.2025.1698890. 

 Tính chống chịu của cây trồng với “waterlogging” (ngập nước) ảnh hưởng đáng kể đến sức sống và năng suất hạt trong điều kiện như vậy. Làm rõ cơ chế phân tử về tính chống chịu ngập có thể giúp chúng ta phát triển giống cây trồng chịu ngập. Nghiên cứu được tiến hành thông qua phân tích có tính chất so sánh các phản ứng sinh lý, phiên mã, và biến dưỡng của giống bắp chịu ngập Guidan162 (GD) và giống bắp nhạt cảm với ngập nước Zhaofeng 588 (ZF) ở giai đoạn vào chắt hạt. Đặc điểm kiểu hình và sinh lý cho thấy: hình thái lá bắp bị ảnh hưởng, trong khi, hàm lượng peroxidase (POD), catalase (CAT) và proline tăng lên đáng kể khi cây bắp bị ngập. Phân tích transcriptomic xác định được 3280 DEGs của GD và 2260 DEGs (differentially expressed genes) của ZF ở điều kiện bình thường và bị ngập. Phân tích “KEGG enrichment” của gen DEGs cho thấy các chu trình sinh học khi cây chống chịu stress rất nhiều, bao gồm chu trình peroxisome, truyền tín hiệu hormone thực vật, và biến dưỡng arginine cũng như proline. Bên cạnh, phổ biểu hiện metabolomic cho thấy 359 và 209 cơ chất biến dưỡng DAMs (differentially abundant metabolites) khác biệt nhau trong giống GD và ZF khi có stress ngập. Nhiều cơ chất của DAMs tham gia làm nên biến dưỡng arginine và proline, truyền tín hiện thực vật, biến dưỡng glutathione metabolism. Phân tích có tính chất dung hợp giữa transcriptomic và metabolomic nhấn mạnh mức độ phong phú có ý nghĩa của abscisic acid (ABA) signaling, biến dưỡng glutathione, và sinh tổng hợp proline. Nhiều gen ứng cử viên chủ chốt như gen mã hóa arginase, PIP, P4H, PYR/PYL, PP2C, SnRK2, ABF, IDH, GPX, GGCT, OXP, và GCL có liên quan đến tính trạng chống chịu ngập. Kết quả này cung cấp cách nhìn mới về cơ chế phân tử vô cùng phức tạp về tính chịu ngập  của cây bắp.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41635687/

Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp

Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp

Nguồn: Ke LiZilong ZhaoWei WangZhuoyang LiFei YiJinsheng LaiQiujie LiuHainan Zhao & Jian Chen. 2026. Meta-QTLs and candidate genes for kernel protein content in maizeTheoretical and Applied genetics; March 6 2026; vol. 139; article 90

Bắp là nguồn thực phẩm chủ lực và là cây trồng lương thực chính, nhưng hàm lượng protein trong hạt bắp chưa đủ để đáp ứng với nhu cầu dinh dưỡng. Làm tăng hàm lượng protein là yêu cầu bức thiết để cải tiến hiệu quả thức ăn và hỗ trợ chế độ ăn dựa vào thực vật. Cho dù có nhiều QTLs gắn liền với hàm lượng protein đã và đang được xác định, nhưng khoảng tin cậy rộng và điển hình, cũng như sai biệt giữa nhiều nghiên cứu làm cho khó khăn hơn trong xác định những gen ứng cử viên tin cậy được. Do đó, tác giả đã tiến hành phân tích meta-QTL toàn diện (MQTL) nhờ cơ sở dữ liệu tích hợp của nghiên cứu 25 QTL, bao gồm 258 QTLs đầu tiên liên quan đến hàm lượng protein hạt bắp. Bản đồ di truyền đồng thuận, mật độ cao được dựng nên bởi sự tích hợp 23 bản đồ di truyền và nhập vào 19.836 markers sang bản đồ di truyền tham chiếu IBM2_2008_Neighbors. Có tất cả 67 MQTLs được xác định, mỗi MQTL tích hợp trung bình từ 5 QTLs đầu tiên, vớ quãng tin cậy của chúng giảm xuống trung bình còn 2.51 lần. Chú ý, 18 MQTLs có quãng vật lý ngắn hơn kích thước 1 Mb, chỉ ra được độ chính xác cao trong mapping. Để minh chứng các MQTLs, người ta tiến hành phân tích GWAS về hàm ượng protein, và 15 MQTLs đã được định vị đồng vị trí với tín hiệu GWAS. Hơn nữa, trên cơ sở thành phần biểu hiện và kết quả phân tích homology (tính đồng dạng) của các loài mễ cốc, có 54 gen ứng cử viên căn bản được xác định, bao gồm Aaap54, Tar3  EREB133, mà giá trị homolog của chúng trên lúa hoặc đậu nành đã được minh chứng rồi để thấy vai trò quan trọng trong việc điều tiết sự tích lũy hàm lượng protein. Kết quả chứng minh được sử dụng phương pháp phân tích meta-QTL trong sàng lọc kiến trúc tính trạng phức tạp và cung cấp cơ sở khoa học về chức năng genome học và triển vọng cải tiến giống bắp cao sản có hàm lượng protein mong muốn.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05199-5