CÂY NGÔ VIỆT NAM

Saturday, April 4, 2026

Phát hiện bất ngờ dẫn đến cơ chế kiểm soát thụ phấn tiềm năng cho ngô non

 Phát hiện bất ngờ dẫn đến cơ chế kiểm soát thụ phấn tiềm năng cho ngô non

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo Đại học bang Iowa

Ngô non, về cơ bản là những bắp ngô non chưa thụ phấn, là một loại thực phẩm đặc sản đang thu hút sự chú ý nhờ hàm lượng dinh dưỡng cao và lượng calo thấp. Nó cũng có giá trị kinh tế đáng kể như một loại cây trồng mang lại lợi nhuận nhanh chóng với thị trường toàn cầu. Hiện nay, Thái Lan là nhà sản xuất ngô non lớn nhất, với giá trị ước tính hàng năm là 64 triệu đô la.

Chất lượng và hương vị của bắp non bị giảm đáng kể do quá trình thụ phấn. Để ngăn ngừa thụ phấn, nông dân phải dựa vào công đoạn khử đực tốn nhiều công sức và chi phí để loại bỏ hoa đực khỏi cây ngay từ giai đoạn đầu sinh trưởng, trước khi chúng phát tán phấn hoa để thụ tinh cho bắp và tạo hạt. Một giải pháp thay thế đầy hứa hẹn cho vấn đề tắc nghẽn này đã được các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Iowa, những người nghiên cứu về lai tạo giống ngô, phát hiện. 

 “Hiện tượng ức chế sinh trưởng làm râu bắp phát triển kém”

Họ đã phát triển một biến thể gen mới dẫn đến hiện tượng "sợi tơ/râu bắp còi cọc". Cơ chế kiểm soát thụ phấn bằng gen mới này gần đây đã được công bố trên tạp chí  Plant Physiology.  

“Trong quá trình nghiên cứu đặc điểm của gen và các đột biến của chúng vì những lý do khác, chúng tôi đã quan sát thấy một đột biến dẫn đến sự giảm đáng kể số lượng râu ngô. Những sợi râu ngắn này chủ yếu phát triển bên trong vỏ ngô, làm giảm cơ hội thụ phấn”, Siddique Aboobucker, một nhà khoa học tại Đại học bang Iowa vào thời điểm nghiên cứu và hiện là trợ lý giáo sư tại Đại học Kentucky, cho biết. Đặc điểm độc đáo này của râu ngô ngắn và còi cọc có liên quan đến việc xóa bỏ gen ZmBMF2 bằng phương pháp chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9. 

Giống ngô biến đổi gen vẫn có râu ngô, mặc dù chúng rất ngắn và hiếm khi vươn ra khỏi vỏ. Trong suốt bốn năm nghiên cứu, râu ngô chỉ mọc ra khỏi vỏ trong một năm duy nhất, và số lượng cũng không đủ để thụ phấn và tạo hạt. Phát hiện này có thể mở đường cho một cơ chế kiểm soát thụ phấn thay thế, đặc biệt hữu ích cho việc sản xuất ngô non. 

Tuy nhiên, nếu loại bỏ lớp vỏ bi, cây vẫn có thể thụ phấn và tạo ra hạt giống – một yếu tố quan trọng cho các chương trình lai tạo giống trong tương lai, theo các nhà nghiên cứu. Họ cũng phát hiện ra rằng đột biến này không ảnh hưởng đến các đặc điểm khác liên quan đến năng suất, chẳng hạn như số hàng hạt hoặc chiều dài bắp.  

“Cơ sở sinh học của quá trình phát triển râu bắp vẫn còn ít được nghiên cứu”

“Sinh học về sự phát triển của râu ngô vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu chưa được khám phá đầy đủ, mặc dù tầm quan trọng của nó rất lớn”, Thomas Lübberstedt, giáo sư KJ Frey về Nông học, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết. “Chỉ có hai đột biến gen liên quan đến sự phát triển của râu ngô được xác định. Giờ đây, chúng tôi đã tìm thấy một gen liên quan đến sự phát triển tối thiểu của râu ngô. Điều này rất thú vị vì tiềm năng mang lại lợi ích cho một ngành nông nghiệp thay thế. Nó cũng có những ý nghĩa rộng hơn đối với công tác lai tạo giống ngô và công nghệ sinh học thực vật, cần được nghiên cứu thêm”.  

Ví dụ, ngô biến đổi gen cũng cho thấy khả năng làm chậm quá trình “lão hóa”, tức là quá trình phát triển và lão hóa tế bào. “Điều này có thể mở ra một hướng đi mới để kiểm soát thời gian sản xuất tốt hơn, mang lại khả năng thích ứng cao hơn với điều kiện môi trường ở các vùng trồng trọt khác nhau”, Aboobucker nói.

Những khám phá bất ngờ

Các nhà nghiên cứu ghi nhận hiện tượng ‘râu bắp phát triển kém’ khi khảo sát khả năng hữu thụ đực ở thể đơn bội, một nội dung thuộc di truyền học ngô gắn liền với việc tạo dòng thuần.

“Đôi khi trong nghiên cứu, bạn sẽ tìm thấy những kết quả thú vị mà bạn không ngờ tới và chúng có thể dẫn đến những phát hiện quan trọng”, Lübberstedt nói. “Điều đó đòi hỏi một cách tiếp cận sáng tạo, dựa vào trực giác và sự kiên nhẫn, vì hầu hết các trường hợp đều cần phải đào sâu hơn và tiến hành thêm các thí nghiệm. Trong trường hợp này, phát hiện này có tiềm năng thực sự dẫn đến một hướng nghiên cứu mới và các sản phẩm mới”. 

Dự án này được tài trợ một phần bởi Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) và Viện Khoa học Thực vật cùng Trung tâm Kỹ thuật Sinh học Cây trồng của Đại học Bang Iowa. Nghiên cứu trong tương lai nhằm kiểm tra tính khả thi của đặc điểm râu ngô ngắn này trong nguồn gen ngô non Ấn Độ được hỗ trợ chung bởi các khoản tài trợ từ NSF và Bộ Công nghệ Sinh học, Chính phủ Ấn Độ. 

“Quá trình khám phá để mở ra những cánh cửa mới và cơ hội kinh tế rất bổ ích và thú vị”, Aboobucker nói. “Chúng tôi may mắn có được nguồn tài trợ hỗ trợ nghiên cứu tiên tiến, cho phép chúng tôi linh hoạt theo đuổi những phát hiện bất ngờ”.

Friday, April 3, 2026

Một số công nghệ trong chọn giống ngô trên thế giới và triển vọng tại Việt Nam

Một số công nghệ trong chọn giống ngô trên thế giới và triển vọng tại Việt Nam

Nguyễn Xuân Thắng¹, Lê Văn Hải¹, Bùi Mạnh Minh¹, Hoàng Kim Thoa¹, Nguyễn Chí Thành¹*

DOWNLOAD

TÓM TẮT

Cây ngô (Zea mays L.) là cây trồng có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, an ninh dinh dưỡng và phát triển kinh tế toàn cầu và ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng trong chọn tạo giống ngô, bao gồm chọn giống phân tử, chọn lọc hệ gen, chỉnh sửa gen, chuyển gen, công nghệ phân tích sinh học phân tử, tin sinh học và trí tuệ nhân tạo. Nhằm thúc đẩy mạnh mẽ chương trình nghiên cứu và chọn tạo giống ngô ưu việt, yêu cầu đặt ra là cần có thêm các công trình nghiên cứu tổng hợp, phân tích và đánh giá một cách hệ thống, khách quan về hiệu quả và tiềm năng của những công nghệ đã và đang được triển khai thành công trên thế giới. Việc tổng hợp chi tiết các công trình khoa học đã được công bố sẽ góp phần xây dựng một cơ sở dữ liệu có độ tin cậy và giá trị khoa học cao. Nguồn tài liệu này sẽ là nền tảng quan trọng để các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp tại Việt Nam đánh giá triển vọng, tính khả thi về mặt kỹ thuật của việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến này vào thực tiễn chọn tạo giống và sản xuất ngô trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay.

Từ khóa: Công nghệ, nghiên cứu, chọn giống, triển vọng, cây ngô

Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.

 Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.

Nguồn: Bujin ZhouShaoli WeiJiaming QinJiaxing ZhengBingwei WangXiu ZhongAnxia HuangJingdan HeChengqiao Shi. 2026. Integrated transcriptomics and metabolomics analyses reveal key pathway responses during the grain-filling stage in maize under waterlogging stressFront Plant Sci.; 2026 Jan 19: 16:1698890. doi: 10.3389/fpls.2025.1698890. 

 Tính chống chịu của cây trồng với “waterlogging” (ngập nước) ảnh hưởng đáng kể đến sức sống và năng suất hạt trong điều kiện như vậy. Làm rõ cơ chế phân tử về tính chống chịu ngập có thể giúp chúng ta phát triển giống cây trồng chịu ngập. Nghiên cứu được tiến hành thông qua phân tích có tính chất so sánh các phản ứng sinh lý, phiên mã, và biến dưỡng của giống bắp chịu ngập Guidan162 (GD) và giống bắp nhạt cảm với ngập nước Zhaofeng 588 (ZF) ở giai đoạn vào chắt hạt. Đặc điểm kiểu hình và sinh lý cho thấy: hình thái lá bắp bị ảnh hưởng, trong khi, hàm lượng peroxidase (POD), catalase (CAT) và proline tăng lên đáng kể khi cây bắp bị ngập. Phân tích transcriptomic xác định được 3280 DEGs của GD và 2260 DEGs (differentially expressed genes) của ZF ở điều kiện bình thường và bị ngập. Phân tích “KEGG enrichment” của gen DEGs cho thấy các chu trình sinh học khi cây chống chịu stress rất nhiều, bao gồm chu trình peroxisome, truyền tín hiệu hormone thực vật, và biến dưỡng arginine cũng như proline. Bên cạnh, phổ biểu hiện metabolomic cho thấy 359 và 209 cơ chất biến dưỡng DAMs (differentially abundant metabolites) khác biệt nhau trong giống GD và ZF khi có stress ngập. Nhiều cơ chất của DAMs tham gia làm nên biến dưỡng arginine và proline, truyền tín hiện thực vật, biến dưỡng glutathione metabolism. Phân tích có tính chất dung hợp giữa transcriptomic và metabolomic nhấn mạnh mức độ phong phú có ý nghĩa của abscisic acid (ABA) signaling, biến dưỡng glutathione, và sinh tổng hợp proline. Nhiều gen ứng cử viên chủ chốt như gen mã hóa arginase, PIP, P4H, PYR/PYL, PP2C, SnRK2, ABF, IDH, GPX, GGCT, OXP, và GCL có liên quan đến tính trạng chống chịu ngập. Kết quả này cung cấp cách nhìn mới về cơ chế phân tử vô cùng phức tạp về tính chịu ngập  của cây bắp.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41635687/

Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp

Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp

Nguồn: Ke LiZilong ZhaoWei WangZhuoyang LiFei YiJinsheng LaiQiujie LiuHainan Zhao & Jian Chen. 2026. Meta-QTLs and candidate genes for kernel protein content in maizeTheoretical and Applied genetics; March 6 2026; vol. 139; article 90

Bắp là nguồn thực phẩm chủ lực và là cây trồng lương thực chính, nhưng hàm lượng protein trong hạt bắp chưa đủ để đáp ứng với nhu cầu dinh dưỡng. Làm tăng hàm lượng protein là yêu cầu bức thiết để cải tiến hiệu quả thức ăn và hỗ trợ chế độ ăn dựa vào thực vật. Cho dù có nhiều QTLs gắn liền với hàm lượng protein đã và đang được xác định, nhưng khoảng tin cậy rộng và điển hình, cũng như sai biệt giữa nhiều nghiên cứu làm cho khó khăn hơn trong xác định những gen ứng cử viên tin cậy được. Do đó, tác giả đã tiến hành phân tích meta-QTL toàn diện (MQTL) nhờ cơ sở dữ liệu tích hợp của nghiên cứu 25 QTL, bao gồm 258 QTLs đầu tiên liên quan đến hàm lượng protein hạt bắp. Bản đồ di truyền đồng thuận, mật độ cao được dựng nên bởi sự tích hợp 23 bản đồ di truyền và nhập vào 19.836 markers sang bản đồ di truyền tham chiếu IBM2_2008_Neighbors. Có tất cả 67 MQTLs được xác định, mỗi MQTL tích hợp trung bình từ 5 QTLs đầu tiên, vớ quãng tin cậy của chúng giảm xuống trung bình còn 2.51 lần. Chú ý, 18 MQTLs có quãng vật lý ngắn hơn kích thước 1 Mb, chỉ ra được độ chính xác cao trong mapping. Để minh chứng các MQTLs, người ta tiến hành phân tích GWAS về hàm ượng protein, và 15 MQTLs đã được định vị đồng vị trí với tín hiệu GWAS. Hơn nữa, trên cơ sở thành phần biểu hiện và kết quả phân tích homology (tính đồng dạng) của các loài mễ cốc, có 54 gen ứng cử viên căn bản được xác định, bao gồm Aaap54, Tar3  EREB133, mà giá trị homolog của chúng trên lúa hoặc đậu nành đã được minh chứng rồi để thấy vai trò quan trọng trong việc điều tiết sự tích lũy hàm lượng protein. Kết quả chứng minh được sử dụng phương pháp phân tích meta-QTL trong sàng lọc kiến trúc tính trạng phức tạp và cung cấp cơ sở khoa học về chức năng genome học và triển vọng cải tiến giống bắp cao sản có hàm lượng protein mong muốn.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05199-5

Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia

 Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia

Nguồn: Ah Young Kim, Bora LeeDa in Choi & Han Yong Lee. 2026. Genetically modified foods and human health: a comprehensive review and cross-national time-trend analysisGM Crops & Food; Article: 2634489 - Published online: 02 Mar 2026

GMOs đã và đang còn là trung tâm khoa học và tranh luận xã hội kể từ khi có sự cho phép của cơ quan quản lý và giới thiệu sản phẩm ra thị trường sau đó ở thập niên 1990 s. Tổng quan này tập hợp chứng cứ dịch tể học từ tư liệu khoa học bao gồm chứng cứ quan sát và những đánh giá có hệ thống trước đây, cùng với khuôn khổ chính sách quốc tế, để đánh giá các mối quan hệ tiềm tàng giữa GMO và sức khỏe nhân loại. Chứng cứ hiện tại chưa làm căn cứ các mối liên hệ nhân quả được giữa tiêu thụ nông sản GMO và bệnh ung thư, độc tính sinh sản, các dị ứng, hoặc các bệnh mãn tính khác. Chúng tôi tiến hành tìm kiếm có hệ thống trên PubMed, Web of Science, và nhiều cơ sở dữ liệu sức khỏe có tính quốc tế, áp dụng các tiếu bao gồm và loại trừ, tổng hợp cơ sở dữ liệu dịch tể học ở cấp độ từng quốc gia, sử dụng “time-trend” (xu hướng thời gian) và phân tích “Joinpoint regression” (thuật toán hồi quy có điểm nối). Trên khắp nhiều quốc gia và các loại hình bệnh tật khác nhau, không thấy sự đồng bộ về thời gian nhất quán nào giữa “GMO authorization” (sự cho phép lưu hành GMO) và thay đổi tỷ lệ bệnh, và kết quả phân tích “pooled breakpoint” cho thấy kết quả không đồng nhất với ước tính thường xuyền trùng với giá trị 0. Nhìn chung, các phát hiện này không tìm thấy được bằng chứng dịch tể học nhất quán đối với quan hệ giữa tiêu thụ sản phẩm GMO và các bệnh mãn tính phổ biến.

Xem  https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/21645698.2026.2634489

Lai thử nghiệm thưa trong chương trình cải tiến bắp ưu thế lai

 Lai thử nghiệm thưa để dự đoán di truyền ở giai đoạn đầu về khả năng phối hợp chung nhắm gia tăng hiệu quả chọn lọc GA trong chương trình cải tiến bắp ưu thế lai

Nguồn: David O. González-DiéguezGary N. AtlinYoseph BeyeneDagne WegaryDorcus C. Gemenet & Christian R. Werner. 2026. Sparse testcrossing for early-stage genomic prediction of general combining ability to increase genetic gain in maize hybrid breeding programsTheoretical and Applied Genetics; February 24 2026; vol. 139; article 78

 Lai thử nghiệm thưa (sparse testcrossing) với 3-5 dòng testers làm tăng hiệu quả chọn lọc (GA: genetic gain) của con lai hybrid cây bắpnhận được sự cân bằng cụ thể của lai thử nghiệm đơnhiệu quả nguồn bố mẹtăng độ chính xác của dự đoán đối với giá trị khả năng phối hợp chung (GCA).

Sparse testcrossing là một chiến lược có hiệu quả rõ rệt để làm tăng cả giá trị GA ngắn hạn cũng như dài hạn trong lai tạo giống bắp hybrid F1. Bắp hybrid nhằm mục đích phát triển dòng con lai mới thông qua lai giữa hai bố mẹ có khoảng cách di truyền rất xa từ “heterotic pools”, khai thác “heterosis” để có kết quả cải tiến năng suất cao, khai thác ưu thế lai. Chương trình bao gồm hai hợp phần: cải tiến quần thể và phát triển sản phẩm. Hợp phần cải tiến quần thể nhằm mục đích làm tăng “heterotic pools” thông qua chọn tái tục thuận nghịch, trên cơ sở khả năng phối hợp chung GCA (general combining ability). Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của testing, việc đánh giá số lượng quá lớn các tổ hợp “hybrid” nhằm dự đoán giá trị GCA là không thực tế bởi vì những thách thức cơ sở hậu cần và chi phí rất cao. Do vậy, nhà chọn giống thường đánh giá quần thể bắt đầu của những ứng cử viện đã chọn chỉ cần thông qua một “single tester” để thu hẹp lại vùng gen ứng cử viên trước khi đánh giá sau đó. Sử dụng một “single tester” lại có thể không đại diện đầy đủ “heterotic pool”, dẫn tới thẩm định giá trị GCA không chính xác và quyết định lựa chọn không tối ưu. Muốn giải quyết nó, người ta đề nghị phương pháp “sparse testcrossing” phục vụ testing ở giai đoạn đầu, khi đó, các subsets của dòng giống ứng củ viên được lai thử nghiệm với nhiều dòng testers khác nhau, được kết nối thông qua  cái gọi là “genomic relationship matrix”. Người ta tiến hành lập mô hình toán ngẫu nhiên (stochastic simulations) nhằm so sánh nhiều “sparse testcrossing” khác nhau với một testcross truyền thống, sử dụng một “single tester” qua hơn 15 chu kỳ lai nghịch đảo tái tục, kết hợp với chọn lọc. Kết quả cho thấy: 3–5 testers, được phân bố khá thưa trong các dòng “full-sibs”, phương pháp “sparse testcrossing”  đạt được cân bằn thực tiễn giữa “simple testcross”, hiệu quả nguồn vật liệu bố mẹ, tăng độc chính xác dự đoán đối với giá trị GCA, cuối cùng dẫn đến kết quả tăng hiệu quả chọn lọc GA.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05169-x

Hinh: Sơ đồ của chương trình lai giống hybrid, biểu thị số lần testcrosses, và số dòng testers. Người ta dùng biểu đồ này trong cả  chương trình lai chọn giống cơ bản đối với việc so sánh giá trị GCA dự đoán chính xác trong các sơ đồ testcrossing và chương trình mẫu chạy riêng đối với từng chiến lược testcrossing để đánh giá được hiệu quả chọn lọc GA của con lai hybrid

Thursday, October 16, 2025

Hệ gen “B chromosome” ảnh hưởng đến thời gian trổ bông của bắp

Hệ gen “B chromosome” ảnh hưởng đến thời gian trổ bông của bắp

Nguồn: Paulo Maurício RuasMateus MondinAntonio Augusto Franco Garcia & Margarida L. R. Aguiar-Perecin. 2025. Maize B chromosome affects the flowering time. Theoretical and Applied Genetics; March 14 2025; vol.138; article 73

Ảnh hưởng của nhiễm sắc thể B của cây bắp đối với tính trạng trổ bông đã được người ta nghiên cứu, cho thấy xu hướng ra bông đực (cờ bắp) bị trì hoản với một sự gia tăng số nhiễm sắc thể B.

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ liệu sự hiện diện của nhiễm sắc thể B có làm thay đổi thời gian trổ cờ và phun râu hay không của cây bắp Zea mays L. Vì vậy, người ta thực hiện 4 thí nghiệm, 3 thí nghiệm trên dòng bắp cận giao (inbred) của “Zapalote Chico race” và thí nghiệm 4 trên tổ hợp con lai (hybrid) giữa Cateto x Zapalote Chico. Những thí nghiệm này bao gồm các lớp khác nhau về số nhiễm sắc thể B và được  bố trí thành khối hoàn toàn ngẫu nhiên, hai lần nhắc lại. Trong 3 thí nghiệm được thực hiện với dòng cận giao “Zapalote Chico race”, người ta thấy rằng số “B chromosomes” có một ảnh hưởng tối thiểu để bắp phun râu (female flowering). Để bắp trổ cờ (male), người ta thực hiện phân tích thống kê cho kết quả là ít nhất một phần thay đổi được quan sát khi bắp trổ bông có thể do sự khác biệt số lượng nhiễm sắc thể vướt ngoài con số thường quy (extranumerary chromosomes). Kết quả phân tích con lai Cateto x Zapalote Chico (hybrid) xác định lại kết quả quan sát dòng cận giao “Zapalote Chico race”, chỉ ra rằng: ảnh hưởng của nhiễm sắc thể B đối với thời gian trổ bông  của bắp Zea mays L. rõ rệt hơn hết đối với hoa đực. Cơ chế điều hành bởi “B chromosomes” làm thay đổi thời gian trổ bông vẫn chưa rõ, cần nghiên cứu nhiều hơn để minh chứng rõ hơn vai trò mà vùng “euchromatic” và vùng “heterochromatic” của nhiễm sắc thể có số nhiệm sắc vượt con số thường quy đóng vai trò quan trọng để cây bắp trổ bông.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-025-04862-7