CÂY NGÔ VIỆT NAM

Saturday, November 30, 2024

Cơ sở di truyền mới và khả năng kháng côn trùng gây hại của cây trồng công nghệ sinh học

 Cơ sở di truyền mới và khả năng kháng côn trùng gây hại của cây trồng công nghệ sinh học

Sâu đục thân ngô, còn được biết với tên gọi là sâu đục quả bông hoặc Helicoverpa zea, đã cho thấy khả năng phát triển nhanh chóng khả năng kháng thuốc trên đồng ruộng đối với các loại cây trồng biến đổi gen. Các nhà nghiên cứu của Đại học Arizona tại Khoa Nông nghiệp, Khoa học Sự sống và Môi trường đang nghiên cứu yếu tố di truyền độc đáo giúp một trong những loài gây hại cây trồng chính của Hoa Kỳ kháng thuốc đối với các loại cây trồng chuyển gen.

 

Nếu không được kiểm soát, côn trùng gây hại có thể tàn phá mùa màng. Để giảm thiểu thiệt hại và giảm nhu cầu phun thuốc trừ sâu, cây trồng đã được biến đổi gen để sản xuất protein vi khuẩn tiêu diệt các loài gây hại chính nhưng không gây hại cho con người hoặc động vật hoang dã. Tuy nhiên, việc trồng rộng rãi các loại cây trồng chuyển gen như vậy đã dẫn đến sự thích nghi nhanh chóng của một số loài gây hại. Một nghiên cứu mới trong Biên bản của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia tiết lộ một cơ sở di truyền mới về khả năng kháng thuốc của cây trồng chuyển gen ở một trong những loài gây hại cây trồng quan trọng nhất tại Hoa Kỳ.

 

Các nhà nghiên cứu từ Khoa côn trùng học của Đại học Arizona thuộc Cao đẳng Nông nghiệp, Khoa học Sự sống và Môi trường đã sử dụng công nghệ gen để nghiên cứu những thay đổi di truyền gây ra khả năng kháng thuốc đối với cây trồng chuyển gen trong quần thể sâu đục thân ngô, còn được gọi là sâu đục quả bông hoặc Helicoverpa zea. Họ phát hiện ra rằng ở loài gây hại háu ăn này, khả năng kháng thuốc tiến hóa trên đồng ruộng không liên quan đến bất kỳ gen nào trong số 20 gen trước đây có liên quan đến khả năng kháng thuốc đối với các protein diệt côn trùng gây hại ở cây trồng chuyển gen.

 

"Sâu đục thân ngô là một trong những loài gây hại thách thức nhất thế giới xét về khả năng nhanh chóng phát triển khả năng kháng thuốc trên đồng ruộng đối với các loại cây trồng biến đổi gen. Chúng tôi đã xác định được 20 gen chứa đột biến mang lại khả năng kháng thuốc đối với các protein diệt côn trùng gây hại dựa trên công trình trước đây với các chủng sâu đục thân ngô được chọn lọc trong phòng thí nghiệm cũng như các quần thể kháng thuốc trên đồng ruộng và các chủng phòng thí nghiệm của các loài gây hại cánh vảy khác", tác giả nghiên cứu cấp cao Bruce Tabashnik, trưởng khoa Côn trùng học đã cho biết. "Chúng tôi gọi 20 gen này là 'những đối tượng thường gặp'. Trái với kỳ vọng của chúng tôi, khi tìm kiếm gen gây ra khả năng kháng thuốc tiến hóa trên đồng ruộng của sâu đục thân ngô, không có gen thường gặp nào gây ra".

 

Một công cụ mới trong cuộc chiến không hồi kết với côn trùng gây hại

 

Để được bảo vệ khỏi sâu đục thân ngô và một số loài sâu bướm và bọ cánh cứng gây hại chính khác, cây trồng đã được biến đổi gen để sản xuất protein từ vi khuẩn phổ biến Bacillus thuringiensis hay Bt. Không giống như thuốc trừ sâu phổ rộng, protein Bt chỉ có tác dụng chống lại tương đối ít loài côn trùng. Trong khi thuốc trừ sâu phổ rộng là chất độc thần kinh, protein Bt chỉ có thể gây độc nếu chúng được ăn vào và sau đó liên kết với các thụ thể đường ruột cụ thể không có ở hầu hết các loài không phải là côn trùng gây hại, bao gồm cả con người. Do hiệu quả và độ an toàn của chúng, cây trồng Bt được trồng ở hàng chục quốc gia trên diện tích hơn một phần tư tỷ mẫu Anh mỗi năm. Tại Hoa Kỳ vào năm 2024, các giống Bt chiếm 86% diện tích ngô và 90% diện tích bông được trồng. Tuy nhiên, sự tiến hóa của khả năng kháng thuốc của các loài gây hại như sâu đục thân ngô đã làm giảm lợi ích của cây trồng Bt.

 

Sâu đục thân ngô là một trong những loài gây hại có ý nghĩa kinh tế nhất ở Hoa Kỳ, gây ra thiệt hại và chi phí hàng trăm triệu đô la mỗi năm. Chúng tấn công nhiều loại cây trồng, bao gồm ngô, bông, đậu nành và cà chua.

 

Một sự thay đổi trong DNA

 

Để phân tích cơ sở di truyền của khả năng kháng sâu đục thân ngô tiến hóa trên đồng ruộng, các nhà nghiên cứu của Đại học Alberta đã hợp tác với các đồng nghiệp tại Đại học Texas A&M, những người đã sử dụng kiểm tra sinh học để đánh giá khả năng kháng bệnh bằng cách thử nghiệm các loài côn trùng có nguồn gốc từ đồng ruộng.

 

Luciano Matzkin, giáo sư côn trùng học tại Đại học Alberta và là đồng tác giả của nghiên cứu đã cho biết: "Các kiểm tra sinh học thường được sử dụng để xác định xem côn trùng có khả năng kháng thuốc hay không bằng cách cho chúng tiếp xúc với protein Bt trong phòng thí nghiệm".

 

Sau khi các kiểm tra sinh học hoàn tất, các loài côn trùng được thử nghiệm thường bị loại bỏ. Trong quan hệ đối tác sáng tạo này, các loài côn trùng từ các kiểm tra sinh học được tiến hành tại Texas A&M đã được đông lạnh và gửi đến U of A để chiết xuất DNA và giải trình tự để có thể quét toàn bộ bộ gen để tìm ra sự khác biệt về mặt di truyền giữa sâu bướm tai ngô kháng và dễ bị nhiễm. Bao gồm một số mẫu đã được giải trình tự trước đó, phân tích bộ gen bao gồm 937 con sâu bướm tai ngô từ 17 địa điểm ở bảy tiểu bang trên khắp miền Nam Hoa Kỳ, được lấy mẫu từ năm 2002 đến năm 2020.

 

"Chúng tôi đã kiểm tra cẩn thận 20 gen ảnh hưởng đến cách côn trùng gây hại phản ứng với protein Bt trong các nghiên cứu trước đây. Bằng chứng của chúng tôi cho thấy những thay đổi trong các gen này không gây ra tình trạng kháng thuốc đối với cây trồng Bt trong quần thể sâu đục thân ngô hoang dã", Andrew Legan, nghiên cứu sinh sau tiến sỹ tại U of A và là tác giả đầu tiên của nghiên cứu đã cho biết. "Thay vào đó, chúng tôi phát hiện ra tình trạng kháng thuốc có liên quan đến một nhóm gen được nhân đôi trong một số quần thể đồng ruộng kháng thuốc. Nhưng vẫn còn là một bí ẩn về việc có bao nhiêu gen trong số này góp phần vào tình trạng kháng thuốc và chúng truyền tình trạng kháng thuốc như thế nào".

 

Mặc dù không thu hẹp nguyên nhân gây ra tình trạng kháng thuốc đối với một gen duy nhất, các nhà nghiên cứu cho biết nghiên cứu này cung cấp một lời nhắc nhở quan trọng rằng cơ sở di truyền của tình trạng kháng thuốc có thể khác nhau giữa thực địa và phòng thí nghiệm. Đây là một cảnh báo quan trọng để phát triển các công cụ theo dõi tình trạng kháng thuốc trên thực địa. Các kết quả cũng chứng minh cách các kiểm tra sinh học có thể được sử dụng với các phân tích bộ gen. Như nghiên cứu minh họa, các phân tích bộ gen của côn trùng kháng thuốc và dễ bị nhiễm bệnh được bảo quản từ các kiểm tra sinh học theo dõi thường quy có thể giúp làm sáng tỏ cơ sở di truyền của tình trạng kháng thuốc tiến hóa trên thực địa, trong khi kết quả kiểm tra sinh học có thể xác định ngay lập tức tình trạng kháng thuốc trên thực địa và giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định quản lý.

 

Đỗ Thị Nhạn theo Đại học Arizona

Biến thiên di truyền của TFs đối với tính trạng chống chịu lạnh của giống bắp

 Biến thiên di truyền của TFs đối với tính trạng chống chịu lạnh của giống bắp

Nguồn: Lei Gao, Lingling Pan, Yiting Shi, Rong Zeng, Minze Li, Zhuoyang Li, Xuan Zhang, Xiaoming Zhao, Xinru Gong, Wei Huang, Xiaohong Yang, Jinsheng Lai, Jianru Zuo, Zhizhong Gong, Xiqing Wang, Weiwei Jin, Zhaobin Dong, Shuhua Yang. 2024. Genetic variation in a heat shock transcription factor modulates cold tolerance in maize. Mol Plant; 2024 Sep 2; 17(9):1423-1438. doi: 10.1016/j.molp.2024.07.015. 

 

Hiểu được làm thế nào cây bắp (Zea mays) phản ứng với stress lạnh là yếu cầu cần thiết nhằm phục vụ tốt hơn chương trình cải tiến giống bắp chống chịu lạnh. Mặc dù người ta sử dụng rất phổ biến GWAS (genome-wide association study) để khai thác các alen trong tự nhiên gắn vvo71i tính trạng chống chịu lạnh, nhưng có rất ít nghiên cứu xác định thành công gen ứng cử viên điều khiển tính chống chịu lạnh của cây bắp. Kết quả này, tác giả đã sử dụng tập đoàn giống bắp cận giao rất đa dạng, được thu thập từ nhiều ngân hàng gen khác nhau để hoàn thiện phương pháp GWAS trên cơ sở biến thiên di truyền của vùng lá bắp bị tổ thương tương đối khi có stress lạnh xảy đến, như một tính trạng mục tiêu tương quan chặt với tính chịu lạnh của cây bắp.

 

Người ta xác định HSF21, mã hóa protein có tên là “B-class heat shock transcription factor” (HSF), yếu tố phiên mã này điều tiết tích cực tính chịu lạnh ở cả 2 giai đoạn: cây non và hạt nẩy mầm. Biến thiên di truyền tự nhiên  của vùng promoter gen chịu lạnh HSF21Hap1 (alen) dẫn đến kết quả biểu hiện gen HSF21 tăng khi bị stress lạnh bởi ức chế sự gắn kết với “basic leucine zipper bZIP68” – một TF, một regulator thụ động với chống chịu lạnh. Bằng phương pháp chạy trình tự “transcriptome deep sequencing”, kết hợp với chạy “DNA affinity purification sequencing”, rồi phân tích “lipidomic” mục tiêu, người ta ghi nhận được chức năng của HSF21 là điều tiết sự kiện sinh lý “homeostasis” (tăng giảm theo lượng ở không bào) biến dưỡng lipid  để điều chỉnh khả năng chịu lạnh của cây bắp. Hơn nữa, người ta nhận thấy HSF21 liên quan đến tính chịu lạnh mà không làm suy giảm năng suất. Như vậy, nghiên cứu này cho thấy HSF21 là một regulator chủ chốt làm tăng cường tính chịu lạnh của cây bắp, cung cấp nguồn gen có giá trị phục vụ cải tiến giống bắp cao sản chịu lạnh.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39095994/

Monday, August 5, 2024

Tính linh hoạt của mô phỏng “genomic predictions” đối với hai chu kỳ lai giống bắp

 Tính linh hoạt của mô phỏng “genomic predictions” đối với hai chu kỳ lai giống bắp

Nguồn: Alizarine Lorenzi, Cyril Bauland, Sophie Pin, Delphine Madur, Valérie Combes, Carine Palaffre, Colin Guillaume, Gaëtan Touzy, Tristan Mary-Huard, Alain Charcosset & Laurence Moreau. 2024. Portability of genomic predictions trained on sparse factorial designs across two maize silage breeding cycles. Theoretical and Applied Genetics; March 2024; vol. 137; article 75

 

Người ta minh chứng được hiệu quả của “genomic predictions” (dự đoán hiệu quả di truyền) hiệu chỉnh trên tập đoàn giống bắp “sparse factorial training sets” để biết trước được thế hệ con lai kế tiếp và trắc nghiệm, các chiến lược khác nhau phục vụ cập nhật kết quả dự báo theo nhiều thế hệ con lai.

 

Sàng lọc di truyền thu nhận những triển vọng mới phục vụ nội dung kiểm tra lại sơ độ lai thông qua thay thế việc đánh giá kiểu hình tích cực của từng cá thể với số liệu dự đoán hiệu quả di truyền. Tìm ra được thiết kế lý tưởng phục vụ “training genomic prediction models” vẫn còn là câu hỏi chưa có lời đáp. Những nghiên cứu trước đây đã và đang biểu hiện triển vọng về khả năng dự báo thông qua thuật toán “sparse factorial” thay vì “tester-based training sets” để dự đoán được kết quả lai đơn trong cùng một thế hệ. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu tìm hiểu sâu hơn việc sử dụng thuật toán “factorials” và sự tối ưu hóa của cúng nhằm chọn dòng có khả năng phối hợp chung mong muốn (GCAs) và giá trị con lai thông qua các chu kỳ lai chọn. Điều đó dựa vào hai chu kỳ lai chọn của một sơ đồ sàng lọc di truyền lai nghịch đảo giống bắp bao gồm quần thể có nhiều bố mẹ (multiparental) kết hợp với quần thể lai nghịch đảo (reciprocal populations) từ tập đoạn bắp “flint” và tập đoàn bắp “dent”, nhóm bổ sung ưu thế lai được sàng lọc để hoàn tất “silage”. Chọn lọc trên cơ sở dự đoán hiệu quả di truyền chạy trên mô phỏng “factorial design” cho kết quả GA% tăng đáng kể (genetic gain: hiệu quả chọn lọc) đối với năng suất chất khô ở thế hệ mới. Kết quả khẳng định hiệu quả của thuật toán “sparse factorial training sets” cho biết dòng ứng cử viên về khả năng phối hợp cao GCAs và giá trị ưu thế lai qua các chu kỳ lai chọn. So với kết quả trước đây trên thế hệ thứ nhất, lợi thế của “factorial” hơn “tester training sets” biểu thị thấp hơn qua nhiều thế hệ. Cập nhật hóa “factorial training sets” bằng “adding single-cross hybrids” giữa dòng con lai được chọn từ thế hệ đầu tiên hoặc một subset ngẫu nhiên nào đó của con lai hybrids của thế hệ mới đã cải tiến được khả năng dự đoán rất nhiều. Giá trị “CDmean criterion” giúp nhà chọn giống xác định được tập đoàn của “single-crosses” (cặp lai đơn) để tiến hành đánh giá kiểu hình nhằm cập nhật “training set” một cách hiệu quả. Kết quả minh chứng tính hiệu quả của thuật toán “sparse factorial designs” trong việc điều chỉnh số liệu dự đoán hiệu quả di truyền của con lai trong thí nghiệm, chỉ ra rằng lợi ích của sự cập nhật theo từng thế hệ con lai.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-024-04566-4

 

Sơ đồ những thay đổi về quy mô thử nghiệm trong chương trình nhân giống bắp.

Chất chuyển hóa đặc biệt từ rễ bắp làm giảm độc tố arsenic: “benzoxazinoids”

 Chất chuyển hóa đặc biệt từ rễ bắp làm giảm độc tố arsenic: “benzoxazinoids”

Nguồn: V Caggìa et al. 2024. Root-exuded specialized metabolites reduce arsenic toxicity in maize. PNAS March 26 2024; 121 (13) e2314261121

 

Các mức độ của độc tố arsenic trong đất có thể làm giảm năng suất cây trồng đáng kể. Ở đây, người ta công bố một cơ chế giảm giảm tích tụ arsenic và giảm độc tính của nó. Benzoxazinoids, một lớp có tính trội của chất biến dưỡng chuyên biệt (còn được gọi là chất biến dưỡng thứ cấp) được mễ cốc sản sinh ra ví dụ như lúa mì và bắp, chúng có thể làm giảm sự hấp thu arsenic và cải tiến hiệu suất thức vật trong nhà kính và trên đồng ruộng. Bên cạnh đó, sự tiết dịch benzoxazinoid vào đất làm tăng cường hiệu suất của những thế hệ con cháu của cây trong đất có nồng độ arsenic cao. Công trình nghiên cứu này mở rộng các chiến lược kháng trên cơ sở di truyền để ổn định năng suất cây trồng trong hệ sinh thái nông nghiệp bị ô nhiễm.

 

Nhờ giải phóng được các chất biến dưỡng chuyên biệt, cây cải thiện được môi trường của chúng. Liệu rằng và bằng cách nào những chất biến dưỡng bảo vệ được cây chống lại mức độ độc chất của nguyên tố vi lượng (trace elements) thì người ta chưa biết rõ. Tác giả đánh giá liệu rằng các benzoxazinoids, được phóng thích vào đất bằng những loài mễ cốc chính, có thể tạo hành lang bảo vệ độc tố arsenic hay không. Benzoxazinoid sản sinh từ cây bắp thực hiện tốt hơn trong đất bị nhiễm độc arsenic hơn các dòng đột biến thiếu benzoxazinoid theo kết quả xét nghiệm nhà kính và trên ruộng. Thêm benzoxazinoids vào đất khôi phục được tác dụng bảo vệ, và ảnh hưởng này còn kéo dài cho đến thế hệ cây con tiếp theo thông qua phản hồi tích cực của đất và cây. Mức độ arsenate trong đất và mức độ arsenic tổng số trong rễ đều thấp hơn khi có sự hiện diện của benzoxazinoids.

 

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2314261121

“Fine mapping” và phân tích gen ứng cử viên qSRC3 điều khiển màu râu bắp (Zea mays L.)

 “Fine mapping” và phân tích gen ứng cử viên qSRC3 điều khiển màu râu bắp (Zea mays L.)

Nguồn: Xueying Wang, Yang Zhou, Chong You, Jinchang Yang, Zhengjie Chen, Dengguo Tang, Jixing Ni, Peng Li, Le Wang, Kaili Zhu, Wujiao Deng, Haimei Wu, Ruifan Bao, Zhiqin Liu, Pengxu Meng, Sijia Yang, Tingzhao Rong & Jian Liu. 2024. Fine mapping and candidate gene analysis of qSRC3 controlling the silk color in maize (Zea mays L.). Theoretical and Applied Genetics; April 2024; vol. 137; article 90.

 

“Fine mapping” QTL qSRC3 trong hệ gen bắp, tương ứng với tính trạng màu sắc râu đỏ (red silk), người ta thấy gen ứng cử viên ZmMYB20 chưa được khám phá, nó mã hóa yếu tố phiên mã R2R3-MYB, biểu hiện một chút nhạy cảm, và điều hòa một cách giả định sự thể hiện của các gen  liên quan đến sinh tổng hợp anthocyanin.

 

Râu bắp không màu (colorless silk) là đặc điểm chính góp phần vào chất lượng quan sát bằng mắt trái bắp tươi (fresh corn) theo phân khúc thị trường. Tuy nhiên, việc xác định các loci theo di truyền Mendel và các gen liên quan điều khiển màu râu bắp rất ít. Theo nghiên cứu này, người ta sử dụng quần thể con lai F2 từ tổ hợp lai của dòng bắp “single-segment substitution” mang gen qSRC3MT1 với màu râu bắp đỏ, mang một alen du nhập từ bắp teosinte (Zea mays ssp. mexicana), lai với dòng bắp tái tục là dòng cận giao Mo17, có râu bắp màu xanh nhạt (green silk), rồi thực hiện “fine mapping”. Người ta thấy rằng: tính trạng râu bắp đỏ được điều khiển bởi một locus có tính chất “semi-dominant” được đặt tên là qSRC3, biểu hiện của gen này là nhạy cảm với điều kiện thiếu ánh sáng. Hơn nữa, qSRC3 giải thích được 68,78% biến thiên kiểu hình và được xác định trên vùng có độ lớn phân tử 133,2 kb, trong đó có tất cả 3 gen. Phân tích biểu hiện gen sau đó cho thấy gen ZmMYB20 (Zm00001d039700), mã hóa protein đóng vai yếu tố phiên mã R2R3-MYB, đây là gen ứng cử viên nặng ký trong qSRC3. Xét nghiệm “yeast one-hybrid and dual-luciferase reporter” cho kết quả minh chứng ZmMYB20 ức chế sự biểu hiện của 2 gen  cần thiết trong sinh tổng hợp anthocyanin, đó là gen ZmF3H và ZmUFGT, thông qua gắn trực tiếp với các vùng của promoter tương ứng. Kết quả rất có ý nghĩa của ZmMYB20 khi ánh sáng bị hạn chế (điều kiện trồng thiếu ánh sáng) trong việc điều tiết theo không gian và thời gian của sinh tổng hợp sắc tố anthocyanin. Những kết quả này giải thích được tính trạng râu bắp không màu trong trái bắp tươi, đáp lại quan niệm sai lầm trước đây rằng trái bắp non có râu bắp màu héo hắt là bắp không tươi, kết quả cung cấp nguồn di truyền giá trị để cải tiến giống bắp ngọt và giống bắp nếp.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-024-04598-w

Sunday, August 4, 2024

Microbacterium azadirachtae CNUC13 tăng cường tính chống chịu mặn trong cây bắp

 Microbacterium azadirachtae CNUC13 tăng cường tính chống chịu mặn trong cây bắp 

Nguồn: Huan Luo, Chaw Su Win, Dong Hoon Lee, Lin He, Jun Myoung Yu. 2024. Microbacterium azadirachtae CNUC13 Enhances Salt Tolerance in Maize by Modulating Osmotic and Oxidative Stress. Biology (Basel); 2024 Apr 7;13(4):244.doi: 10.3390/biology13040244.

 

Đất nhiễm mặn là một trong những mối đe dọađến hệ sinh thái toàn cầu, an ninh lương thực, và sản lượng nông sản. Vi khuẩn PGPRs (plant growth-promoting rhizobacteria) là những bioinoculants đầy tiềm năng đưa ra phương pháp tiếp cận thân thiện với môi trường nhằm thúc đẩy năng suất cây trồng trên vùng đất bị nhiễm mặn.Công trình khoa học ngày nay cho thấy chủng nòi vi khuẩn CNUC13 trong vùng rễ của cây bắp phát huy nhiều đặc điểm của vi khuẩn PGPR và tính cống chịu stress phi sinh học. Chủng nòi vi khẩn này chống chịu đến 1000 mM NaCl và 30% polyethylene glycol (PEG) 6000, biểu hiện các tính trạng PGP của cây (plant growth-promoting P), bao gồm việc sản sinh ra indole-3-acetic acid (IAA) và siderophore cũng như tính trạng phân giải lân hữu dụng. Phân tích di truyền huyết thống cho thấy chủng nòi CNUC13 từ vi khuẩn có tên khoa học Microbacterium azadirachtae. Cây bắp cho phơi nhiễm trong nghiệm thức mặn cao đã làm ra stress có tính chất “osmotic” (co dãn ngyên sinh) và tính chất “oxidative”, làm ức chế hạt bắp nẩy mầm, ức chế tăng trưởng, làm suy giảm các sắc tố quang hợp. Tuy nhiên, cây bắp non khi được chủng vi khuẩn thuộc chủng nòi CNUC13 cho kết quả cải tiến đáng kể tỷ lệ hạt nẩy mầm và tăng trưởng cây non trong nghiệm thức xử lý mặn. Đặc biệt, khi so sánh với đối chứng, cây bắp non có xử lý CNUC13 biểu hiện sự tăng lên sinh khối, đó là khối lượng chất tươi và hệ thống rễ phát triển. Xử lý CNUC13 cũng làm tăng các sắc to61quang hợp (diệp lục tố và carotenoids), làm giảm sự tích lũy osmotic (proline) và oxidative (hydrogen peroxide và malondialdehyde) là những chỉ thị của stress, ảnh hưởng tích cực  đến hoạt tính enzyme chống ô xi hóa (antioxidant) - đó là catalase, superoxide dismutase, và peroxidase). Theo đó, nghiệm thức xử lý CNUC13 làm giảm stress có tính ô xi hóa (oxidative) và làm tăng tính chịu mặn của cây bắp. Tóm lại, kết quả nghiên cứu này chứng minh rằng M. azadirachtae CNUC13 làm tăng đáng kể sự tắng trưởng của cây bắp non bị stress mặn thông qua sự cải tiến  hiệu quả quang hợp, các regulators điều tiết áp suất thẩm thấu, chống chịu stress “oxidative”, và hoạt tính enzyme “antioxidant”. Kết quả tập trung khả năng sử dụng M. azadirachtae CNUC13 như một bioinoculant (vật liệu sinh học chủng vào cây) để làm tăng tính chống chịu stress mặn của bắp, thân thiện với môi trường nhằm giảm thiểu được ảnh hưởng bất lợi của mặn và phát triển nông nghiệp bền vững.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38666856/

“Fine mapping” QTL chủ lực mang tên qshgd1 đối với tính trạng lưỡng bội tự phát từ đơn bội trong hệ gen cây bắp (Zea mays L.)

 “Fine mapping”  QTL chủ lực mang tên qshgd1 đối với tính trạng lưỡng bội tự phát từ đơn bội trong hệ gen cây bắp (Zea mays L.)

Nguồn: Tyler L. Foster, Monika Kloiber-Maitz, Laurine Gilles, Ursula K. Frei, Sarah Pfeffer, Yu-Ru Chen, Somak Dutta, Arun S. Seetharam, Matthew B. Hufford & Thomas Lübberstedt. 2024. Fine mapping of major QTL qshgd1 for spontaneous haploid genome doubling in maize (Zea mays L.).Theoretical and Applied Genetics; May 2024; volume 137; article 117

 

Một QTL có ảnh hưởng lớn được “fine mapped”, bao gồm 79 mô phỏng của gen đích, 10 gen ứng cử viên triển vọng, cùng với một sự kiện kiện “inversion” mới.

 

Trong chương trình lai bắp thương mại,công nghệ DH (đơn bội kép) được xem là nguồn vật liệu có hiệu quả nhất để có được dòng con lai hoàn toàn đồng hợp tử nhanh và mới. Tuy nhiên, chiến lược DH này, sử dụng kích hoạt ra đơn bội in vivo, hiện cần nhiều vật liệu đột biến (mutagenic agents) chúng không chỉ nguy hiểm mà còn tốn nhiều công sức. Công trình này tập trung phương pháp tiếp cận có tính chất thay thế để phát triển dòng DH  - SHGD sao chép bộ gen đơn bộ tự phát (spontaneous haploid genome duplication) thông qua HMF tự nhiên (restored haploid male fertility: phục hồi hữu thụ phấn hoa đơn bội). Dòng bắp cận giao A427 và Wf9, sao chép với mức HMF cao và sau đó là mức HMF thấp, được chọn để thực hiện chạy “fine-map” tại QTL có ảnh hưởng lớn gắn liền với SHGD—qshgd1. Các alen SHGD dẫn xuất từ A427, có các nhóm tái tổ hợp đơn bội mới biểu thị nhiều mức độ trên vùng nhiễm sắc thể A427 được phục hồi. Vùng nhiễm sắc thể này có độ lớn 45 megabases (Mb) cho thông tin di truyền trên nhiễm sắc thể 5. Sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm tái tổ hợp đơn bội của HMF được xác định, biểu thị việc mapping QTL này rất gần mục tiêu hơn nhiều. Do ức chế của tái tổ hợp từ proximity của tâm động, và vùng đảo ngược mới được tìm thấy, cho nên,  QTL này chỉ giới hạn trong vùng 25 Mb, ở đó, chỏ có một recombinant đơn độc được quan sát trong ca. 9.000 cá thể cây BC1. Tuy nhiên, có tất cả 79 models của gen được xác định trong vùng 25 Mb này. Bên cạnh đó, có 10 gen ứng cử viên triển vọng, trên cơ sở phân tích RNA-seq data, được mô tả để đánh giá trong tương lai, trong khi đó, vùng genomic dưới nguồn khá hẹp có thể truy cập để du nhập thẳng và nguồn vật liệu bố mẹ ưu việt phục vụ cho phương pháp hồi giao (BC methods).

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-024-04615-y