CÂY NGÔ VIỆT NAM

Friday, April 3, 2026

Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.

 Tích hợp transcriptomics và metabolomics tìm ra lộ trình chủ lực trong phản ứng của cây bắp ở giai đoạn vào chắc hạt khi bị ngập nước.

Nguồn: Bujin Zhou, Shaoli Wei, Jiaming Qin, Jiaxing Zheng, Bingwei Wang, Xiu Zhong, Anxia Huang, Jingdan He, Chengqiao Shi. 2026. Integrated transcriptomics and metabolomics analyses reveal key pathway responses during the grain-filling stage in maize under waterlogging stress. Front Plant Sci.; 2026 Jan 19: 16:1698890. doi: 10.3389/fpls.2025.1698890. 

 Tính chống chịu của cây trồng với “waterlogging” (ngập nước) ảnh hưởng đáng kể đến sức sống và năng suất hạt trong điều kiện như vậy. Làm rõ cơ chế phân tử về tính chống chịu ngập có thể giúp chúng ta phát triển giống cây trồng chịu ngập. Nghiên cứu được tiến hành thông qua phân tích có tính chất so sánh các phản ứng sinh lý, phiên mã, và biến dưỡng của giống bắp chịu ngập Guidan162 (GD) và giống bắp nhạt cảm với ngập nước Zhaofeng 588 (ZF) ở giai đoạn vào chắt hạt. Đặc điểm kiểu hình và sinh lý cho thấy: hình thái lá bắp bị ảnh hưởng, trong khi, hàm lượng peroxidase (POD), catalase (CAT) và proline tăng lên đáng kể khi cây bắp bị ngập. Phân tích transcriptomic xác định được 3280 DEGs của GD và 2260 DEGs (differentially expressed genes) của ZF ở điều kiện bình thường và bị ngập. Phân tích “KEGG enrichment” của gen DEGs cho thấy các chu trình sinh học khi cây chống chịu stress rất nhiều, bao gồm chu trình peroxisome, truyền tín hiệu hormone thực vật, và biến dưỡng arginine cũng như proline. Bên cạnh, phổ biểu hiện metabolomic cho thấy 359 và 209 cơ chất biến dưỡng DAMs (differentially abundant metabolites) khác biệt nhau trong giống GD và ZF khi có stress ngập. Nhiều cơ chất của DAMs tham gia làm nên biến dưỡng arginine và proline, truyền tín hiện thực vật, biến dưỡng glutathione metabolism. Phân tích có tính chất dung hợp giữa transcriptomic và metabolomic nhấn mạnh mức độ phong phú có ý nghĩa của abscisic acid (ABA) signaling, biến dưỡng glutathione, và sinh tổng hợp proline. Nhiều gen ứng cử viên chủ chốt như gen mã hóa arginase, PIP, P4H, PYR/PYL, PP2C, SnRK2, ABF, IDH, GPX, GGCT, OXP, và GCL có liên quan đến tính trạng chống chịu ngập. Kết quả này cung cấp cách nhìn mới về cơ chế phân tử vô cùng phức tạp về tính chịu ngập  của cây bắp.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/41635687/

Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp

Meta-QTLs các gen ứng cử viên quy định tính trạng hàm lượng protein của hạt bắp

Nguồn: Ke Li, Zilong Zhao, Wei Wang, Zhuoyang Li, Fei Yi, Jinsheng Lai, Qiujie Liu, Hainan Zhao & Jian Chen. 2026. Meta-QTLs and candidate genes for kernel protein content in maize. Theoretical and Applied genetics; March 6 2026; vol. 139; article 90

Bắp là nguồn thực phẩm chủ lực và là cây trồng lương thực chính, nhưng hàm lượng protein trong hạt bắp chưa đủ để đáp ứng với nhu cầu dinh dưỡng. Làm tăng hàm lượng protein là yêu cầu bức thiết để cải tiến hiệu quả thức ăn và hỗ trợ chế độ ăn dựa vào thực vật. Cho dù có nhiều QTLs gắn liền với hàm lượng protein đã và đang được xác định, nhưng khoảng tin cậy rộng và điển hình, cũng như sai biệt giữa nhiều nghiên cứu làm cho khó khăn hơn trong xác định những gen ứng cử viên tin cậy được. Do đó, tác giả đã tiến hành phân tích meta-QTL toàn diện (MQTL) nhờ cơ sở dữ liệu tích hợp của nghiên cứu 25 QTL, bao gồm 258 QTLs đầu tiên liên quan đến hàm lượng protein hạt bắp. Bản đồ di truyền đồng thuận, mật độ cao được dựng nên bởi sự tích hợp 23 bản đồ di truyền và nhập vào 19.836 markers sang bản đồ di truyền tham chiếu IBM2_2008_Neighbors. Có tất cả 67 MQTLs được xác định, mỗi MQTL tích hợp trung bình từ 5 QTLs đầu tiên, vớ quãng tin cậy của chúng giảm xuống trung bình còn 2.51 lần. Chú ý, 18 MQTLs có quãng vật lý ngắn hơn kích thước 1 Mb, chỉ ra được độ chính xác cao trong mapping. Để minh chứng các MQTLs, người ta tiến hành phân tích GWAS về hàm ượng protein, và 15 MQTLs đã được định vị đồng vị trí với tín hiệu GWAS. Hơn nữa, trên cơ sở thành phần biểu hiện và kết quả phân tích homology (tính đồng dạng) của các loài mễ cốc, có 54 gen ứng cử viên căn bản được xác định, bao gồm Aaap54, Tar3 và EREB133, mà giá trị homolog của chúng trên lúa hoặc đậu nành đã được minh chứng rồi để thấy vai trò quan trọng trong việc điều tiết sự tích lũy hàm lượng protein. Kết quả chứng minh được sử dụng phương pháp phân tích meta-QTL trong sàng lọc kiến trúc tính trạng phức tạp và cung cấp cơ sở khoa học về chức năng genome học và triển vọng cải tiến giống bắp cao sản có hàm lượng protein mong muốn.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05199-5

Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia

 Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia

Nguồn: Ah Young Kim, Bora Lee, Da in Choi & Han Yong Lee. 2026. Genetically modified foods and human health: a comprehensive review and cross-national time-trend analysis. GM Crops & Food; Article: 2634489 - Published online: 02 Mar 2026

GMOs đã và đang còn là trung tâm khoa học và tranh luận xã hội kể từ khi có sự cho phép của cơ quan quản lý và giới thiệu sản phẩm ra thị trường sau đó ở thập niên 1990 s. Tổng quan này tập hợp chứng cứ dịch tể học từ tư liệu khoa học bao gồm chứng cứ quan sát và những đánh giá có hệ thống trước đây, cùng với khuôn khổ chính sách quốc tế, để đánh giá các mối quan hệ tiềm tàng giữa GMO và sức khỏe nhân loại. Chứng cứ hiện tại chưa làm căn cứ các mối liên hệ nhân quả được giữa tiêu thụ nông sản GMO và bệnh ung thư, độc tính sinh sản, các dị ứng, hoặc các bệnh mãn tính khác. Chúng tôi tiến hành tìm kiếm có hệ thống trên PubMed, Web of Science, và nhiều cơ sở dữ liệu sức khỏe có tính quốc tế, áp dụng các tiếu bao gồm và loại trừ, tổng hợp cơ sở dữ liệu dịch tể học ở cấp độ từng quốc gia, sử dụng “time-trend” (xu hướng thời gian) và phân tích “Joinpoint regression” (thuật toán hồi quy có điểm nối). Trên khắp nhiều quốc gia và các loại hình bệnh tật khác nhau, không thấy sự đồng bộ về thời gian nhất quán nào giữa “GMO authorization” (sự cho phép lưu hành GMO) và thay đổi tỷ lệ bệnh, và kết quả phân tích “pooled breakpoint” cho thấy kết quả không đồng nhất với ước tính thường xuyền trùng với giá trị 0. Nhìn chung, các phát hiện này không tìm thấy được bằng chứng dịch tể học nhất quán đối với quan hệ giữa tiêu thụ sản phẩm GMO và các bệnh mãn tính phổ biến.

Xem  https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/21645698.2026.2634489

Lai thử nghiệm thưa trong chương trình cải tiến bắp ưu thế lai

 Lai thử nghiệm thưa để dự đoán di truyền ở giai đoạn đầu về khả năng phối hợp chung nhắm gia tăng hiệu quả chọn lọc GA trong chương trình cải tiến bắp ưu thế lai

Nguồn: David O. González-Diéguez, Gary N. Atlin, Yoseph Beyene, Dagne Wegary, Dorcus C. Gemenet & Christian R. Werner. 2026. Sparse testcrossing for early-stage genomic prediction of general combining ability to increase genetic gain in maize hybrid breeding programs. Theoretical and Applied Genetics; February 24 2026; vol. 139; article 78

 Lai thử nghiệm thưa (sparse testcrossing) với 3-5 dòng testers làm tăng hiệu quả chọn lọc (GA: genetic gain) của con lai hybrid cây bắp, nhận được sự cân bằng cụ thể của lai thử nghiệm đơn, hiệu quả nguồn bố mẹ, tăng độ chính xác của dự đoán đối với giá trị khả năng phối hợp chung (GCA).

Sparse testcrossing là một chiến lược có hiệu quả rõ rệt để làm tăng cả giá trị GA ngắn hạn cũng như dài hạn trong lai tạo giống bắp hybrid F1. Bắp hybrid nhằm mục đích phát triển dòng con lai mới thông qua lai giữa hai bố mẹ có khoảng cách di truyền rất xa từ “heterotic pools”, khai thác “heterosis” để có kết quả cải tiến năng suất cao, khai thác ưu thế lai. Chương trình bao gồm hai hợp phần: cải tiến quần thể và phát triển sản phẩm. Hợp phần cải tiến quần thể nhằm mục đích làm tăng “heterotic pools” thông qua chọn tái tục thuận nghịch, trên cơ sở khả năng phối hợp chung GCA (general combining ability). Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của testing, việc đánh giá số lượng quá lớn các tổ hợp “hybrid” nhằm dự đoán giá trị GCA là không thực tế bởi vì những thách thức cơ sở hậu cần và chi phí rất cao. Do vậy, nhà chọn giống thường đánh giá quần thể bắt đầu của những ứng cử viện đã chọn chỉ cần thông qua một “single tester” để thu hẹp lại vùng gen ứng cử viên trước khi đánh giá sau đó. Sử dụng một “single tester” lại có thể không đại diện đầy đủ “heterotic pool”, dẫn tới thẩm định giá trị GCA không chính xác và quyết định lựa chọn không tối ưu. Muốn giải quyết nó, người ta đề nghị phương pháp “sparse testcrossing” phục vụ testing ở giai đoạn đầu, khi đó, các subsets của dòng giống ứng củ viên được lai thử nghiệm với nhiều dòng testers khác nhau, được kết nối thông qua  cái gọi là “genomic relationship matrix”. Người ta tiến hành lập mô hình toán ngẫu nhiên (stochastic simulations) nhằm so sánh nhiều “sparse testcrossing” khác nhau với một testcross truyền thống, sử dụng một “single tester” qua hơn 15 chu kỳ lai nghịch đảo tái tục, kết hợp với chọn lọc. Kết quả cho thấy: 3–5 testers, được phân bố khá thưa trong các dòng “full-sibs”, phương pháp “sparse testcrossing”  đạt được cân bằn thực tiễn giữa “simple testcross”, hiệu quả nguồn vật liệu bố mẹ, tăng độc chính xác dự đoán đối với giá trị GCA, cuối cùng dẫn đến kết quả tăng hiệu quả chọn lọc GA.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05169-x

Hinh: Sơ đồ của chương trình lai giống hybrid, biểu thị số lần testcrosses, và số dòng testers. Người ta dùng biểu đồ này trong cả  chương trình lai chọn giống cơ bản đối với việc so sánh giá trị GCA dự đoán chính xác trong các sơ đồ testcrossing và chương trình mẫu chạy riêng đối với từng chiến lược testcrossing để đánh giá được hiệu quả chọn lọc GA của con lai hybrid

Thursday, October 16, 2025

Hệ gen “B chromosome” ảnh hưởng đến thời gian trổ bông của bắp

Hệ gen “B chromosome” ảnh hưởng đến thời gian trổ bông của bắp

Nguồn: Paulo Maurício Ruas, Mateus Mondin, Antonio Augusto Franco Garcia & Margarida L. R. Aguiar-Perecin. 2025. Maize B chromosome affects the flowering time. Theoretical and Applied Genetics; March 14 2025; vol.138; article 73

Ảnh hưởng của nhiễm sắc thể B của cây bắp đối với tính trạng trổ bông đã được người ta nghiên cứu, cho thấy xu hướng ra bông đực (cờ bắp) bị trì hoản với một sự gia tăng số nhiễm sắc thể B.

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ liệu sự hiện diện của nhiễm sắc thể B có làm thay đổi thời gian trổ cờ và phun râu hay không của cây bắp Zea mays L. Vì vậy, người ta thực hiện 4 thí nghiệm, 3 thí nghiệm trên dòng bắp cận giao (inbred) của “Zapalote Chico race” và thí nghiệm 4 trên tổ hợp con lai (hybrid) giữa Cateto x Zapalote Chico. Những thí nghiệm này bao gồm các lớp khác nhau về số nhiễm sắc thể B và được  bố trí thành khối hoàn toàn ngẫu nhiên, hai lần nhắc lại. Trong 3 thí nghiệm được thực hiện với dòng cận giao “Zapalote Chico race”, người ta thấy rằng số “B chromosomes” có một ảnh hưởng tối thiểu để bắp phun râu (female flowering). Để bắp trổ cờ (male), người ta thực hiện phân tích thống kê cho kết quả là ít nhất một phần thay đổi được quan sát khi bắp trổ bông có thể do sự khác biệt số lượng nhiễm sắc thể vướt ngoài con số thường quy (extranumerary chromosomes). Kết quả phân tích con lai Cateto x Zapalote Chico (hybrid) xác định lại kết quả quan sát dòng cận giao “Zapalote Chico race”, chỉ ra rằng: ảnh hưởng của nhiễm sắc thể B đối với thời gian trổ bông  của bắp Zea mays L. rõ rệt hơn hết đối với hoa đực. Cơ chế điều hành bởi “B chromosomes” làm thay đổi thời gian trổ bông vẫn chưa rõ, cần nghiên cứu nhiều hơn để minh chứng rõ hơn vai trò mà vùng “euchromatic” và vùng “heterochromatic” của nhiễm sắc thể có số nhiệm sắc vượt con số thường quy đóng vai trò quan trọng để cây bắp trổ bông.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-025-04862-7

Tiến hóa sâu đục rễ bắp miền tây đối với nhiều chủng Bacillus thuringiensis trong giống bắp chuyển gen

 Tiến hóa sâu đục rễ bắp miền tây đối với nhiều chủng Bacillus thuringiensis trong giống bắp chuyển gen

Nguồn: Aaron J. Gassmann, Ben D. Brenizer, Abigail L. Kropf, John B. McCulloch, Devin L. Radosevich, Ram B. Shrestha, Eliott M. Smith, and Coy R. St. Clair. 2025. Sequential evolution of resistance by western corn rootworm to multiple Bacillus thuringiensis traits in transgenic maize. PNAS; March 10, 2025; 122 (11) e2422337122; https://doi.org/10.1073/pnas.2422337122 

Sự tiến hóa có tính chất trình tự về tính kháng đối với nhiều đặc điểm của vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) trong giống bắp chuyển gen của sâu đục rễ bắp miền tây (western corn rootworm). Đây là lâu sâu hại nghiêm trọng cho canh tác bắp tại Hoa Kỳ. Giống cây trồng chuyển gen Bt có vai trò quan trọng trong quản lý sâu lại chủ lực trên thế giới và làm giảm được tác động bất lợi trong môi trường nông nghiệp. Tuy nhiên, tiến hóa của các loài sâu hại là mối đe dọa lớn nhất để sử dụng liên tục giống cây trồng Bt. Để làm chậm lại sự tiến hóa có tính chất trình tự ấy (sequential evolution) về tính kháng, người ta đề ra những chiến lược quản lý tính kháng theo “nguy cơ kháng cao” với cái gọi là “transgenic pyramid” (tích hợp dạng tháp các transgenes) một khi tính trạng này bị tổn thương do sâu đề kháng được, tránh được kịch bản này, và giảm thiểu nguy cơ kháng của sâu hại bằng cách trồng trọt theo kiểu “larger refuges” (làm nơi trú ẩn côn trùng lớn hơn) và đa dạng cách quản lý sâu hại.

Cây chuyển gen sản sinh ra protein “toxins” giết chết sâu có từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt), đang được trồng trên thế giới để quản lý sâu hại. “Western corn rootworm” là côn trùng hại rễ bắp nghiêm trọng tại Hoa Kỳ, chúng được quản lý bằng giống bắp chuyển gen Bt. Tại Hoa Kỳ, cánh tác giống Bt cần phải đi kèm theo chiến lược quản lý tính kháng này nhằm làm chậm lại sự tiến hóa của tính kháng Bt. Một trong những chiến lược quản lý tính kháng ấy đầu tiên là “non-Bt refuges” (nơi trú ẩn không phải Bt) khi trồng giống Bt sản sinh ra hai Bt toxins (i.e., một tích hợp hình tháp, chồng gen) để giết được cùng một loài côn trùng gây hại. Phương pháp này làm chậm lại tính kháng của sâu vì cá thể với tính kháng một loại độc tố đều bị giết lần thứ hai. Tuy nhiên, nếu một loài sâu hại kháng được một toxin trong pyramid nói trên, thì hiệu quả của một pyramid làm trì hoản tính kháng được thỏa hiệp, khả năng dẫn đến kết quả tiến hóa tính kháng đối với cả hai toxins. Ở đây, người ta áp dụng phương pháp “meta-analysis” để minh chứng sự tiến hóa có tính trình tự ấy về tính kháng của sâu đục rễ bắp đối với giống bắp Bt (tạo protein Cry3Bb1) được theo sau bởi tính kháng giống bắp (sản sinh Gpp34/Tpp35Ab1), với tính kháng đối với từng “Bt toxin” tăng lên theo thời gian như trên đường thẳng. Hơn nữa, sâu đục thân rễ kháng Bt tạo sức ép tổn thương đáng kể khi ăn, trên ruộng bắp, có “pyramid” giống bắp bao gồm giống tạo ra protein: Gpp34/Tpp35Ab1 và Cry3Bb1. Muốn giảm thiểu rủi ro của sự tiến hóa ấy  với đa tính trạng “transgenic”, người ta cần nhấn mạnh đến chiến lược phát triển “chồng các transgenes” không làm tổn hại bởi tính kháng trước đó, trong vài trường hợp,  tính kháng có mặt tại “nơi trú ẩn lớn hơn” trên cây bắp “non-Bt” và phương pháp quản lý dịch hại đa dạng hơn cần phải được áp dụng.

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2422337122

Tìm ra sự khác biệt lớn về khả năng tìm kiếm nước ở các giống ngô của Hoa Kỳ

 Tìm ra sự khác biệt lớn về khả năng tìm kiếm nước ở các giống ngô của Hoa Kỳ

Nguyễn Tiến Hải theo Phys.org

Rễ ngô phát triển trong một thí nghiệm được thiết kế tùy chỉnh để đo lường phản ứng phân nhánh của rễ đối với độ ẩm, một hiện tượng được gọi là hydropatterning. Nguồn: LiPo Ching, Stanford University.

Cây ngô biết cách tìm nước trong đất bằng chính chóp rễ của nó, nhưng một số giống, bao gồm nhiều giống được sử dụng để lai tạo ngô năng suất cao ở Hoa Kỳ dường như đã mất đi một phần khả năng đó, theo một nghiên cứu do Đại học Stanford dẫn đầu cho biết. Với tình trạng biến đổi khí hậu làm gia tăng hạn hán, những phát hiện này có tiềm năng phát triển các giống ngô có khả năng phục hồi tốt hơn.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science đã khám phá ra cơ chế di truyền đằng sau “phản ứng khả năng phân nhánh của rễ với độ ẩm” (hydropatterning)”, hay cách rễ cây phân nhánh hướng về phía nước và tránh những khoảng đất khô cằn. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ethylene, một loại hormone thực vật được biết đến là giúp chuối chín, cũng ảnh hưởng đến cách rễ cây phát triển để tìm kiếm nước.

“Thực vật rất tinh vi trong cách chúng “nhìn thấy” nước ở đâu trong đất và các gen chịu trách nhiệm cho điều đó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cây tạo ra hệ thống rễ được tối ưu hóa để hấp thụ nước hiệu quả”, José Dinneny, tác giả chính của nghiên cứu và là giáo sư sinh học tại Khoa Khoa học và Nhân văn của Stanford cho biết.

Về cơ bản, cây trồng sử dụng ethylene dạng khí do rễ của chúng tạo ra để cảm nhận vị trí của các khoảng không khí trong đất, Dinneny cho biết. Sau đó, chúng điều chỉnh sự phân nhánh của rễ theo hướng của hormone đó.

Rễ tìm nước

Mặc dù phòng thí nghiệm Dinneny trước đây đã tiết lộ độ nhạy cảm tinh vi của rễ ngô trong việc phát hiện nước, nhưng mức độ thực hiện điều này của cây phụ thuộc rất nhiều vào giống ngô cụ thể.

Đối với nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một phương pháp mới, đơn giản hóa để nghiên cứu độ nhạy cảm của rễ với nước, giúp có thể phân tích phản ứng của 250 giống ngô phản ánh nguồn gen có trong quá trình lai tạo giống ngô hiện đại. Họ phát hiện ra rằng các giống ngô thích nghi để phát triển ở các vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới như Mexico rất giỏi trong việc tạo ra các nhánh rễ mới hướng về phía nước và tránh các vùng khô hạn. Ngược lại, các giống thích nghi với vùng ôn đới của Bắc Mỹ thường mọc rễ theo nhiều hướng mà không phân biệt được vùng khô hạn và vùng ẩm ướt trong đất. Công trình này được thực hiện thông qua sự hợp tác quốc tế của một số nhóm nghiên cứu đóng góp chuyên môn về di truyền định lượng, tiến hóa và phát triển rễ.

Các nhà nghiên cứu cho biết sự phát triển của ngô hiện đại được trồng ở Hoa Kỳ, một loại cây trồng chính thường được trồng trên các vùng đất nông nghiệp màu mỡ cao, có thể đã làm suy yếu phản ứng tìm kiếm nước của rễ cây. Họ cũng lưu ý rằng so sánh với các nghiên cứu ngoài đồng cho thấy rằng cách rễ cây phân nhánh hướng về phía nước mạnh hơn liên quan đến độ sâu của rễ nhiều hơn.

“Điều thú vị là những cây ngô cảm nhận tốt hơn về nơi có nước cũng tạo ra hệ thống rễ sâu hơn”, tác giả chính Johannes Scharwies, một học giả sau tiến sỹ tại phòng thí nghiệm của Dinneny, cho biết. “Một giả thuyết có thể là nếu cây không mất thời gian để phát triển các nhánh rễ ở những nơi không tìm thấy nước và chất dinh dưỡng, thì cây sẽ có nhiều năng lượng hơn để phát triển sâu hơn ở nơi nhiều khả năng có nước hơn”.

Nhắm đến thích ứng hạn hán

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra thông qua phân tích di truyền rằng hai loại hormone thực vật, auxin và ethylene, đóng vai trò trong cách rễ ngô phản ứng với nước. Mặc dù auxin đã được biết là giúp kiểm soát quá trình này, nhưng sự tham gia của ethylene là một khám phá mới. Trong các thí nghiệm với cây cải xoong (Arabidopsis thaliana) - một cây mẫu thường được sử dụng trong nghiên cứu - các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các con đường truyền tín hiệu di truyền của hai loại hormone này bổ sung cho nhau: Tín hiệu auxin thúc đẩy sự phát triển của nhánh rễ hướng về phía nước, trong khi ethylene ngăn chặn sự phân nhánh khi rễ tiếp xúc với không khí.

Cần có thêm nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sự tương tác của các con đường di truyền này trước khi các giống ngô có thể được phát triển với hệ thống rễ chống chịu hạn tốt hơn, nhưng những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu các phản ứng cục bộ này ở các chóp rễ, Scharwies cho biết.

“Mỗi chóp rễ hoạt động như một cảm biến trong đất. Nghiên cứu các phản ứng cục bộ ở chóp rễ về tìm kiếm nước và chất dinh dưỡng và kiểm soát hướng của các nhánh rễ mới nên được phát triển”, ông cho biết. “Chúng ta cần dành nhiều thời gian hơn để xem xét các phản ứng rễ rất cục bộ này để hiểu toàn bộ cây làm gì, và sau đó chúng ta có thể sử dụng điều đó để phát triển các loại cây có khả năng chống chịu hạn tốt hơn”.