CÂY NGÔ VIỆT NAM

Friday, April 3, 2026

Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia

 Thực phẩm GM và sức khỏe nhân loại: Một tổng quan toàn diện và phân tích xu hướng thời gian xuyên quốc gia

Nguồn: Ah Young Kim, Bora Lee, Da in Choi & Han Yong Lee. 2026. Genetically modified foods and human health: a comprehensive review and cross-national time-trend analysis. GM Crops & Food; Article: 2634489 - Published online: 02 Mar 2026

GMOs đã và đang còn là trung tâm khoa học và tranh luận xã hội kể từ khi có sự cho phép của cơ quan quản lý và giới thiệu sản phẩm ra thị trường sau đó ở thập niên 1990 s. Tổng quan này tập hợp chứng cứ dịch tể học từ tư liệu khoa học bao gồm chứng cứ quan sát và những đánh giá có hệ thống trước đây, cùng với khuôn khổ chính sách quốc tế, để đánh giá các mối quan hệ tiềm tàng giữa GMO và sức khỏe nhân loại. Chứng cứ hiện tại chưa làm căn cứ các mối liên hệ nhân quả được giữa tiêu thụ nông sản GMO và bệnh ung thư, độc tính sinh sản, các dị ứng, hoặc các bệnh mãn tính khác. Chúng tôi tiến hành tìm kiếm có hệ thống trên PubMed, Web of Science, và nhiều cơ sở dữ liệu sức khỏe có tính quốc tế, áp dụng các tiếu bao gồm và loại trừ, tổng hợp cơ sở dữ liệu dịch tể học ở cấp độ từng quốc gia, sử dụng “time-trend” (xu hướng thời gian) và phân tích “Joinpoint regression” (thuật toán hồi quy có điểm nối). Trên khắp nhiều quốc gia và các loại hình bệnh tật khác nhau, không thấy sự đồng bộ về thời gian nhất quán nào giữa “GMO authorization” (sự cho phép lưu hành GMO) và thay đổi tỷ lệ bệnh, và kết quả phân tích “pooled breakpoint” cho thấy kết quả không đồng nhất với ước tính thường xuyền trùng với giá trị 0. Nhìn chung, các phát hiện này không tìm thấy được bằng chứng dịch tể học nhất quán đối với quan hệ giữa tiêu thụ sản phẩm GMO và các bệnh mãn tính phổ biến.

Xem  https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/21645698.2026.2634489

Lai thử nghiệm thưa trong chương trình cải tiến bắp ưu thế lai

 Lai thử nghiệm thưa để dự đoán di truyền ở giai đoạn đầu về khả năng phối hợp chung nhắm gia tăng hiệu quả chọn lọc GA trong chương trình cải tiến bắp ưu thế lai

Nguồn: David O. González-Diéguez, Gary N. Atlin, Yoseph Beyene, Dagne Wegary, Dorcus C. Gemenet & Christian R. Werner. 2026. Sparse testcrossing for early-stage genomic prediction of general combining ability to increase genetic gain in maize hybrid breeding programs. Theoretical and Applied Genetics; February 24 2026; vol. 139; article 78

 Lai thử nghiệm thưa (sparse testcrossing) với 3-5 dòng testers làm tăng hiệu quả chọn lọc (GA: genetic gain) của con lai hybrid cây bắp, nhận được sự cân bằng cụ thể của lai thử nghiệm đơn, hiệu quả nguồn bố mẹ, tăng độ chính xác của dự đoán đối với giá trị khả năng phối hợp chung (GCA).

Sparse testcrossing là một chiến lược có hiệu quả rõ rệt để làm tăng cả giá trị GA ngắn hạn cũng như dài hạn trong lai tạo giống bắp hybrid F1. Bắp hybrid nhằm mục đích phát triển dòng con lai mới thông qua lai giữa hai bố mẹ có khoảng cách di truyền rất xa từ “heterotic pools”, khai thác “heterosis” để có kết quả cải tiến năng suất cao, khai thác ưu thế lai. Chương trình bao gồm hai hợp phần: cải tiến quần thể và phát triển sản phẩm. Hợp phần cải tiến quần thể nhằm mục đích làm tăng “heterotic pools” thông qua chọn tái tục thuận nghịch, trên cơ sở khả năng phối hợp chung GCA (general combining ability). Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của testing, việc đánh giá số lượng quá lớn các tổ hợp “hybrid” nhằm dự đoán giá trị GCA là không thực tế bởi vì những thách thức cơ sở hậu cần và chi phí rất cao. Do vậy, nhà chọn giống thường đánh giá quần thể bắt đầu của những ứng cử viện đã chọn chỉ cần thông qua một “single tester” để thu hẹp lại vùng gen ứng cử viên trước khi đánh giá sau đó. Sử dụng một “single tester” lại có thể không đại diện đầy đủ “heterotic pool”, dẫn tới thẩm định giá trị GCA không chính xác và quyết định lựa chọn không tối ưu. Muốn giải quyết nó, người ta đề nghị phương pháp “sparse testcrossing” phục vụ testing ở giai đoạn đầu, khi đó, các subsets của dòng giống ứng củ viên được lai thử nghiệm với nhiều dòng testers khác nhau, được kết nối thông qua  cái gọi là “genomic relationship matrix”. Người ta tiến hành lập mô hình toán ngẫu nhiên (stochastic simulations) nhằm so sánh nhiều “sparse testcrossing” khác nhau với một testcross truyền thống, sử dụng một “single tester” qua hơn 15 chu kỳ lai nghịch đảo tái tục, kết hợp với chọn lọc. Kết quả cho thấy: 3–5 testers, được phân bố khá thưa trong các dòng “full-sibs”, phương pháp “sparse testcrossing”  đạt được cân bằn thực tiễn giữa “simple testcross”, hiệu quả nguồn vật liệu bố mẹ, tăng độc chính xác dự đoán đối với giá trị GCA, cuối cùng dẫn đến kết quả tăng hiệu quả chọn lọc GA.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-026-05169-x

Hinh: Sơ đồ của chương trình lai giống hybrid, biểu thị số lần testcrosses, và số dòng testers. Người ta dùng biểu đồ này trong cả  chương trình lai chọn giống cơ bản đối với việc so sánh giá trị GCA dự đoán chính xác trong các sơ đồ testcrossing và chương trình mẫu chạy riêng đối với từng chiến lược testcrossing để đánh giá được hiệu quả chọn lọc GA của con lai hybrid

Thursday, October 16, 2025

Hệ gen “B chromosome” ảnh hưởng đến thời gian trổ bông của bắp

Hệ gen “B chromosome” ảnh hưởng đến thời gian trổ bông của bắp

Nguồn: Paulo Maurício Ruas, Mateus Mondin, Antonio Augusto Franco Garcia & Margarida L. R. Aguiar-Perecin. 2025. Maize B chromosome affects the flowering time. Theoretical and Applied Genetics; March 14 2025; vol.138; article 73

Ảnh hưởng của nhiễm sắc thể B của cây bắp đối với tính trạng trổ bông đã được người ta nghiên cứu, cho thấy xu hướng ra bông đực (cờ bắp) bị trì hoản với một sự gia tăng số nhiễm sắc thể B.

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ liệu sự hiện diện của nhiễm sắc thể B có làm thay đổi thời gian trổ cờ và phun râu hay không của cây bắp Zea mays L. Vì vậy, người ta thực hiện 4 thí nghiệm, 3 thí nghiệm trên dòng bắp cận giao (inbred) của “Zapalote Chico race” và thí nghiệm 4 trên tổ hợp con lai (hybrid) giữa Cateto x Zapalote Chico. Những thí nghiệm này bao gồm các lớp khác nhau về số nhiễm sắc thể B và được  bố trí thành khối hoàn toàn ngẫu nhiên, hai lần nhắc lại. Trong 3 thí nghiệm được thực hiện với dòng cận giao “Zapalote Chico race”, người ta thấy rằng số “B chromosomes” có một ảnh hưởng tối thiểu để bắp phun râu (female flowering). Để bắp trổ cờ (male), người ta thực hiện phân tích thống kê cho kết quả là ít nhất một phần thay đổi được quan sát khi bắp trổ bông có thể do sự khác biệt số lượng nhiễm sắc thể vướt ngoài con số thường quy (extranumerary chromosomes). Kết quả phân tích con lai Cateto x Zapalote Chico (hybrid) xác định lại kết quả quan sát dòng cận giao “Zapalote Chico race”, chỉ ra rằng: ảnh hưởng của nhiễm sắc thể B đối với thời gian trổ bông  của bắp Zea mays L. rõ rệt hơn hết đối với hoa đực. Cơ chế điều hành bởi “B chromosomes” làm thay đổi thời gian trổ bông vẫn chưa rõ, cần nghiên cứu nhiều hơn để minh chứng rõ hơn vai trò mà vùng “euchromatic” và vùng “heterochromatic” của nhiễm sắc thể có số nhiệm sắc vượt con số thường quy đóng vai trò quan trọng để cây bắp trổ bông.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-025-04862-7

Tiến hóa sâu đục rễ bắp miền tây đối với nhiều chủng Bacillus thuringiensis trong giống bắp chuyển gen

 Tiến hóa sâu đục rễ bắp miền tây đối với nhiều chủng Bacillus thuringiensis trong giống bắp chuyển gen

Nguồn: Aaron J. Gassmann, Ben D. Brenizer, Abigail L. Kropf, John B. McCulloch, Devin L. Radosevich, Ram B. Shrestha, Eliott M. Smith, and Coy R. St. Clair. 2025. Sequential evolution of resistance by western corn rootworm to multiple Bacillus thuringiensis traits in transgenic maize. PNAS; March 10, 2025; 122 (11) e2422337122; https://doi.org/10.1073/pnas.2422337122 

Sự tiến hóa có tính chất trình tự về tính kháng đối với nhiều đặc điểm của vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) trong giống bắp chuyển gen của sâu đục rễ bắp miền tây (western corn rootworm). Đây là lâu sâu hại nghiêm trọng cho canh tác bắp tại Hoa Kỳ. Giống cây trồng chuyển gen Bt có vai trò quan trọng trong quản lý sâu lại chủ lực trên thế giới và làm giảm được tác động bất lợi trong môi trường nông nghiệp. Tuy nhiên, tiến hóa của các loài sâu hại là mối đe dọa lớn nhất để sử dụng liên tục giống cây trồng Bt. Để làm chậm lại sự tiến hóa có tính chất trình tự ấy (sequential evolution) về tính kháng, người ta đề ra những chiến lược quản lý tính kháng theo “nguy cơ kháng cao” với cái gọi là “transgenic pyramid” (tích hợp dạng tháp các transgenes) một khi tính trạng này bị tổn thương do sâu đề kháng được, tránh được kịch bản này, và giảm thiểu nguy cơ kháng của sâu hại bằng cách trồng trọt theo kiểu “larger refuges” (làm nơi trú ẩn côn trùng lớn hơn) và đa dạng cách quản lý sâu hại.

Cây chuyển gen sản sinh ra protein “toxins” giết chết sâu có từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt), đang được trồng trên thế giới để quản lý sâu hại. “Western corn rootworm” là côn trùng hại rễ bắp nghiêm trọng tại Hoa Kỳ, chúng được quản lý bằng giống bắp chuyển gen Bt. Tại Hoa Kỳ, cánh tác giống Bt cần phải đi kèm theo chiến lược quản lý tính kháng này nhằm làm chậm lại sự tiến hóa của tính kháng Bt. Một trong những chiến lược quản lý tính kháng ấy đầu tiên là “non-Bt refuges” (nơi trú ẩn không phải Bt) khi trồng giống Bt sản sinh ra hai Bt toxins (i.e., một tích hợp hình tháp, chồng gen) để giết được cùng một loài côn trùng gây hại. Phương pháp này làm chậm lại tính kháng của sâu vì cá thể với tính kháng một loại độc tố đều bị giết lần thứ hai. Tuy nhiên, nếu một loài sâu hại kháng được một toxin trong pyramid nói trên, thì hiệu quả của một pyramid làm trì hoản tính kháng được thỏa hiệp, khả năng dẫn đến kết quả tiến hóa tính kháng đối với cả hai toxins. Ở đây, người ta áp dụng phương pháp “meta-analysis” để minh chứng sự tiến hóa có tính trình tự ấy về tính kháng của sâu đục rễ bắp đối với giống bắp Bt (tạo protein Cry3Bb1) được theo sau bởi tính kháng giống bắp (sản sinh Gpp34/Tpp35Ab1), với tính kháng đối với từng “Bt toxin” tăng lên theo thời gian như trên đường thẳng. Hơn nữa, sâu đục thân rễ kháng Bt tạo sức ép tổn thương đáng kể khi ăn, trên ruộng bắp, có “pyramid” giống bắp bao gồm giống tạo ra protein: Gpp34/Tpp35Ab1 và Cry3Bb1. Muốn giảm thiểu rủi ro của sự tiến hóa ấy  với đa tính trạng “transgenic”, người ta cần nhấn mạnh đến chiến lược phát triển “chồng các transgenes” không làm tổn hại bởi tính kháng trước đó, trong vài trường hợp,  tính kháng có mặt tại “nơi trú ẩn lớn hơn” trên cây bắp “non-Bt” và phương pháp quản lý dịch hại đa dạng hơn cần phải được áp dụng.

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2422337122

Tìm ra sự khác biệt lớn về khả năng tìm kiếm nước ở các giống ngô của Hoa Kỳ

 Tìm ra sự khác biệt lớn về khả năng tìm kiếm nước ở các giống ngô của Hoa Kỳ

Nguyễn Tiến Hải theo Phys.org

Rễ ngô phát triển trong một thí nghiệm được thiết kế tùy chỉnh để đo lường phản ứng phân nhánh của rễ đối với độ ẩm, một hiện tượng được gọi là hydropatterning. Nguồn: LiPo Ching, Stanford University.

Cây ngô biết cách tìm nước trong đất bằng chính chóp rễ của nó, nhưng một số giống, bao gồm nhiều giống được sử dụng để lai tạo ngô năng suất cao ở Hoa Kỳ dường như đã mất đi một phần khả năng đó, theo một nghiên cứu do Đại học Stanford dẫn đầu cho biết. Với tình trạng biến đổi khí hậu làm gia tăng hạn hán, những phát hiện này có tiềm năng phát triển các giống ngô có khả năng phục hồi tốt hơn.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science đã khám phá ra cơ chế di truyền đằng sau “phản ứng khả năng phân nhánh của rễ với độ ẩm” (hydropatterning)”, hay cách rễ cây phân nhánh hướng về phía nước và tránh những khoảng đất khô cằn. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng ethylene, một loại hormone thực vật được biết đến là giúp chuối chín, cũng ảnh hưởng đến cách rễ cây phát triển để tìm kiếm nước.

“Thực vật rất tinh vi trong cách chúng “nhìn thấy” nước ở đâu trong đất và các gen chịu trách nhiệm cho điều đó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cây tạo ra hệ thống rễ được tối ưu hóa để hấp thụ nước hiệu quả”, José Dinneny, tác giả chính của nghiên cứu và là giáo sư sinh học tại Khoa Khoa học và Nhân văn của Stanford cho biết.

Về cơ bản, cây trồng sử dụng ethylene dạng khí do rễ của chúng tạo ra để cảm nhận vị trí của các khoảng không khí trong đất, Dinneny cho biết. Sau đó, chúng điều chỉnh sự phân nhánh của rễ theo hướng của hormone đó.

Rễ tìm nước

Mặc dù phòng thí nghiệm Dinneny trước đây đã tiết lộ độ nhạy cảm tinh vi của rễ ngô trong việc phát hiện nước, nhưng mức độ thực hiện điều này của cây phụ thuộc rất nhiều vào giống ngô cụ thể.

Đối với nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một phương pháp mới, đơn giản hóa để nghiên cứu độ nhạy cảm của rễ với nước, giúp có thể phân tích phản ứng của 250 giống ngô phản ánh nguồn gen có trong quá trình lai tạo giống ngô hiện đại. Họ phát hiện ra rằng các giống ngô thích nghi để phát triển ở các vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới như Mexico rất giỏi trong việc tạo ra các nhánh rễ mới hướng về phía nước và tránh các vùng khô hạn. Ngược lại, các giống thích nghi với vùng ôn đới của Bắc Mỹ thường mọc rễ theo nhiều hướng mà không phân biệt được vùng khô hạn và vùng ẩm ướt trong đất. Công trình này được thực hiện thông qua sự hợp tác quốc tế của một số nhóm nghiên cứu đóng góp chuyên môn về di truyền định lượng, tiến hóa và phát triển rễ.

Các nhà nghiên cứu cho biết sự phát triển của ngô hiện đại được trồng ở Hoa Kỳ, một loại cây trồng chính thường được trồng trên các vùng đất nông nghiệp màu mỡ cao, có thể đã làm suy yếu phản ứng tìm kiếm nước của rễ cây. Họ cũng lưu ý rằng so sánh với các nghiên cứu ngoài đồng cho thấy rằng cách rễ cây phân nhánh hướng về phía nước mạnh hơn liên quan đến độ sâu của rễ nhiều hơn.

“Điều thú vị là những cây ngô cảm nhận tốt hơn về nơi có nước cũng tạo ra hệ thống rễ sâu hơn”, tác giả chính Johannes Scharwies, một học giả sau tiến sỹ tại phòng thí nghiệm của Dinneny, cho biết. “Một giả thuyết có thể là nếu cây không mất thời gian để phát triển các nhánh rễ ở những nơi không tìm thấy nước và chất dinh dưỡng, thì cây sẽ có nhiều năng lượng hơn để phát triển sâu hơn ở nơi nhiều khả năng có nước hơn”.

Nhắm đến thích ứng hạn hán

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra thông qua phân tích di truyền rằng hai loại hormone thực vật, auxin và ethylene, đóng vai trò trong cách rễ ngô phản ứng với nước. Mặc dù auxin đã được biết là giúp kiểm soát quá trình này, nhưng sự tham gia của ethylene là một khám phá mới. Trong các thí nghiệm với cây cải xoong (Arabidopsis thaliana) - một cây mẫu thường được sử dụng trong nghiên cứu - các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các con đường truyền tín hiệu di truyền của hai loại hormone này bổ sung cho nhau: Tín hiệu auxin thúc đẩy sự phát triển của nhánh rễ hướng về phía nước, trong khi ethylene ngăn chặn sự phân nhánh khi rễ tiếp xúc với không khí.

Cần có thêm nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sự tương tác của các con đường di truyền này trước khi các giống ngô có thể được phát triển với hệ thống rễ chống chịu hạn tốt hơn, nhưng những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu các phản ứng cục bộ này ở các chóp rễ, Scharwies cho biết.

“Mỗi chóp rễ hoạt động như một cảm biến trong đất. Nghiên cứu các phản ứng cục bộ ở chóp rễ về tìm kiếm nước và chất dinh dưỡng và kiểm soát hướng của các nhánh rễ mới nên được phát triển”, ông cho biết. “Chúng ta cần dành nhiều thời gian hơn để xem xét các phản ứng rễ rất cục bộ này để hiểu toàn bộ cây làm gì, và sau đó chúng ta có thể sử dụng điều đó để phát triển các loại cây có khả năng chống chịu hạn tốt hơn”.

Nghiên cứu khám phá ra những yếu tố di truyền mới phía sau quá trình quang hợp ở cây ngô

 Nghiên cứu khám phá ra những yếu tố di truyền mới phía sau quá trình quang hợp ở cây ngô

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo Đại học Cambridge

Các nhà nghiên cứu từ Đại học Cambridge hợp tác với các đồng nghiệp từ Scuola Superiore Sant'Anna ở Pisa và Đại học Essex đã xác định các yếu tố di truyền mới có thể ảnh hưởng đến hiệu quả quang hợp ở cây ngô. 

Nghiên cứu này đưa ra một cách tiếp cận mới có giá trị để cải thiện năng suất ở các loại cây trồng như ngô, là một trong những loại cây ngũ cốc quan trọng nhất thế giới. Trong trường hợp của ngô, ngay cả sự gia tăng tối thiểu về năng suất cũng có thể có tác động đáng kể đến an ninh lương thực toàn cầu.

Quang hợp là quá trình mà thực vật sử dụng năng lượng mặt trời để sản xuất chất dinh dưỡng cho sự phát triển của chúng. Tăng hiệu quả của cơ chế này có nghĩa là làm cho cây trồng của chúng ta năng suất hơn và do đó tăng năng suất của chúng. 

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp tiếp cận từ di truyền học, hệ gen học và sinh học phân tử để chứng minh rằng có sự đa dạng di truyền trong giống ngô mà chúng ta trồng và điều này có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể về cách cây trồng có thể sử dụng năng lượng từ mặt trời. 

Cụ thể, nghiên cứu đã xác định các biến thể di truyền có trong một số loại ngô từ vùng ôn đới làm hạn chế đáng kể khả năng quang hợp của chúng.

Những phát hiện này có thể đặc biệt hữu ích cho việc cải thiện sản xuất ở những vùng có khí hậu mát mẻ hơn như Vương quốc Anh và Bắc Âu, nơi diện tích đất trồng ngô đã tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây và có khả năng sẽ tiếp tục tăng.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí The Plant Cell vào ngày 24 tháng 4 năm 2025. 

Nghiên cứu này là một phần của dự án lớn của châu Âu mang tên CAPITALISE, nghiên cứu về biến thể di truyền tự nhiên trong quá trình quang hợp ở ngô, lúa mạch và cà chua để tạo ra các loại cây trồng có năng suất cao hơn.

Một khu vực chín muồi để khám phá

Ý tưởng đằng sau nghiên cứu này là tìm hiểu và tối ưu hóa các quá trình điều chỉnh việc "bật và tắt" một số thành phần của bộ máy quang hợp. 

Tiến sỹ Johannes Kromdijk, trưởng nhóm Sinh lý học thực vật môi trường tại Đại học Cambridge và là tác giả chính của bài báo giải thích: "Cho đến nay vẫn có quan điểm cho rằng quang hợp không thay đổi nhiều giữa các loài. Dự án này đang thách thức quan điểm đó. Hiện chúng tôi đang tìm thấy sự thay đổi tự nhiên trong các đặc điểm quang hợp ở cà chua, lúa mạch và trong trường hợp này là ngô".

Tiến sỹ Kromdijk cho biết: "Các yếu tố năng suất khác đã được khám phá và không có khả năng mang lại những cải thiện lớn như vậy. Vì vậy, hiệu quả quang hợp là một lĩnh vực chín muồi để khám phá".

Kết quả nghiên cứu đóng góp đáng kể vào việc xác định mục tiêu cải tiến di truyền ngô, mở ra triển vọng mới về tác động và tính bền vững trong canh tác.

Điều chỉnh quá trình quang hợp để tăng năng suất cây trồng

Đồng tác giả đầu tiên của nghiên cứu, tiến sỹ John Ferguson, Phó giáo sư tại Đại học Essex và trước đây là nhà nghiên cứu Sau tiến sĩ tại nhóm Sinh lý học thực vật môi trường ở Cambridge, ông cho biết: “Điều quan trọng là chúng ta phải bắt đầu hiểu được di truyền học điều chỉnh quá trình quang hợp ở cây trồng. Điều này sẽ cho phép chúng ta tinh chỉnh quá trình quang hợp và cải thiện năng suất cây trồng”.

“Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng sự kết hợp giữa hệ gen học và các phép đo đặc điểm thông lượng cao để khám phá ra các gen điều chỉnh phản ứng của quá trình quang hợp với ánh sáng động. Điều này rất quan trọng vì trong môi trường đồng ruộng, cây trồng được tiếp xúc với ánh sáng thay đổi”. 

“Chúng tôi phát hiện ra rằng hoạt động của một gen cụ thể (CP24) đóng vai trò trung tâm trong việc điều chỉnh phản ứng của quá trình quang hợp với sự thay đổi ánh sáng. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc lai tạo ngô và mang lại cơ hội để thiết kế các chiến lược nhằm tối ưu hóa hiệu quả quang hợp ở ngô”. 

Những phát hiện đặc biệt có liên quan đến việc trồng ngô ở vùng khí hậu mát mẻ

Dự án có sự tham gia của một nhóm các nhà nghiên cứu làm việc trong hơn hai năm để đo lường bộ sưu tập khoảng 300 kiểu gen ngô cụ thể trong một thử nghiệm thực địa tại Niab  , ngoại ô Cambridge. 

Đó là một nỗ lực to lớn. "Bạn đang nói đến 640 lô đất", tiến sỹ Kromdijk nói.

“Đây không phải là môi trường phổ biến nhất mà ngô thường được thử nghiệm. Chúng tôi ở khá xa về phía bắc”, ông nói thêm.

Tiến sỹ Kromdijk giải thích: "Đây có thể là một phát hiện đặc biệt liên quan đến khí hậu ôn đới. Dòng gốc biểu hiện kém CP24 là dòng thường được sử dụng để làm cho cây trồng phù hợp hơn với mùa sinh trưởng ngắn hơn, đó là điều bạn cần ở những vùng khí hậu mát mẻ hơn".

Các bước tiếp theo là xem cách thức hoạt động này trong bối cảnh lai tạo. Ngô trồng trên đồng ruộng thường là giống lai. Vì vậy, thử nghiệm để xem các phát hiện có chuyển đổi được hay không là bước tiếp theo quan trọng.

Ảnh hưởng của giống ngô biến đổi gen MON810 bọ đuôi kềm trên mặt lá (Collembola)

 Ảnh hưởng của giống ngô biến đổi gen MON810 bọ đuôi kềm trên mặt lá (Collembola)

Nguồn: Ľudovít Cagáň, Lenka Minarčíková, Pavel Šebek, Lukáš Čížek, Oxana Skoková Habuštová. 2025. Effects of genetically modified maize MON810 on surface-active springtails (Collembola). Entomologia Experimentalis et Applicata; First published: 05 February 2025; https://doi.org/10.1111/eea.13539

Bọ đuôi kìm (Springtails hay Collembola) là thành phần không thể thiếu và có lợi cho cộng đồng sinh vật đất. Như là một phần của nghiên cứu toàn diện về vi khuẩn Bacillus thuringiensis trên giống bắp lai DKC4442YG (sự kiện Bt MON810) biểu hiện “Cry1Ab toxin” trên sinh vật không chủ đích (nontarget invertebrates), người ta nghiên cứu sự phong phú và đa dạng của con “springtails” hoạt động tích cực trên mặt đất, vùng ôn đới, Trung Âu (Tây Slovakia), thời gian hơn 3 năm, 10 lô có Bt, 10 lô có trồng cây bắp sự kiện “near-isogenic non-Bt event DK440”. Bón phân đúng tiêu chuẩn và phun thuốc cỏ theo quy định mà không được dùng thuốc diệt sâu hại. Con springtails được lấy mẫu trong suốt mùa sinh trưởng, 9 đến 11 lần / mỗi lô / năm, sử dụng bẫy hố; có tất cả 580 mẫu được thu trong thời gian thí nghiệm. Có tất cả 7945 cá thể của 9 loài sinh vật được thu.

Người ta tìm thấy giống bắp lai này (Bt vs. non-Bt) không ảnh hưởng đến số lượng trung bình của loài, độ phong phú, hoặc thành phần cộng đồng của con “springtails”. Không có tương tác đáng kể giữa giống bắp lai này và thành phần loài phân bố theo mùa, số loài, độ phong phú, hoặc thành phần cộng đồng. Như vậy, bắp chuyển gen sự kiện MON810 không có bất kỳ tác động nào đến quần thể cộng đồng con Collembola sống tích cực trên mặt đất.

Xem https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1111/eea.13539