CÂY NGÔ VIỆT NAM

Tuesday, October 14, 2025

DSD1/ZmICEb điều tiết sự phát triển khí khổng và chống chịu khô hạn của cây bắp

 DSD1/ZmICEb điều tiết sự phát triển khí khổngchống chịu khô hạn của cây bắp

Nguồn: Wenqi ZhouJun YinYuqian ZhouYongsheng LiHaijun HeYanzhong YangXiaojuan WangXiaorong LianXiaoyun DongZengke MaLiang ChenSuiwen Hou. 2025. DSD1/ZmICEb regulates stomatal development and drought tolerance in maize. J Integr Plant Biol.; 2025 Jun; 67(6):1487-1500. doi: 10.1111/jipb.13890. 

Cây bắp (Zea mays L.) bị ức chế tăng trưởng và năng suất bởi khô hạn xảy ra trên toàn thế giới. Cơ quan khí khổng có vai trò cực kỳ quan trọng trong bốc thoát hơn nước và trao đổi khí, cho nên,  đây là tính trạng rất đáng quan tâm để cải tiến hiệu quả sử dụng nước (WUE) giúp cây bắp chống chịu khô hạn. Theo nghiên cứu này, người ta định tính được một đột biến gen dsd1 (decreased stomatal density 1) của cây bắp, cho thấy khiếm khuyết của khí khổng, đó là sự phân hóa tế bào mẹ có chức năng bảo vệ, sự hình thành tế bào phụ trợ và sự trưởng thành của tế bào bảo vệ. DSD1 mã hóa protein đóng vai trò TF có tên “basic helix-loop-helix transcription factor INDUCER OF CBF EXPRESSION b (ZmICEb)” và là một đồng dạng (homolog) của ICE1 trong cây Arabidopsis (Arabidopsis thaliana). DSD1/ZmICEb biểu hiện trong tế bào tầng khí khổng thông qua phát triển khí khổng, đóng vai trò bảo thủ trong sự phát triển ấy trong cây bắp và cây Arabidopsis. Đột biến DSD1/ZmICEb cải tiến đáng kể tính chống chịu khô hạn và hiệu quả sử dụng nước WUE của cây bắp, giảm sự thất thoát năng suất hạt khi cây bị hạn. Do vậy, DSD1/ZmICEb đại diện cho một trong những gen ứng cử viên triển vọng phục vụ cải tiến di truyền tính trạng chống chịu khô hạn của cây bắp thông qua thao tác trên mật độ khí khổng.

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/40105588/

Monday, October 13, 2025

Vai trò điều tiết của gen ZmSTOMAGEN1/2 trong sự phát triển khí khổng cây bắp được minh chứng thông qua chỉnh sửa gen và phổ biểu hiện metabolome

 Vai trò điều tiết của gen ZmSTOMAGEN1/2 trong sự phát triển khí khổng cây bắp được minh chứng thông qua  chỉnh sửa gen và phổ biểu hiện metabolome

Nguồn: Juan-Juan Xu, Qing-Yun Chen, Li-Fang Qin, Yuan Liu, You-Zhi Li, Xian-Wei Fan. 2025. The regulatory role of ZmSTOMAGEN1/2 in maize stomatal development is elucidated via gene editing and metabolic profiling. PLOS One; July 14, 2025; https://doi.org/10.1371/journal.pone.0328433

Sự phát triển khí khổng được tiến hành qua trung gian EPIDERMAL PATTERNING FACTORs (EPFs), một họ protein có những peptides được tiết ra bao gồm STOMAGEN/EPFL9 của cây Arabidopsis. Để làm rõ chức năng của STOMAGEN orthologues (gen đồng dạng) trong cây bắp (Zea mays), người ta tạo ra một đột biến “double knockout” của gen ZmSTOMAGEN1 và ZmSTOMAGEN2 nhờ hệ thống CRISPR/Cas9. Phân tích kiểu hình đầy đủ cho thấy đột biến zmstomagen1/2 biểu thị khiếm khuyết trong phát triển khó khổng, đó là mất hoàn toàn khi khổng giữa những tế bào biểu bì trong tập tin loại hình khí khổng và phức không bình thường của khí khổng có tế bào thùy nhỏ. Những tế bào bất thường như vậy có khả năng phát sinh từ sự phân chia không đối xứng thất bại của tế bào mẹ  bảo vệ, cuối cùng ngăn chận sự sự thanh của những phức có chức năng của khí khổng.

Đột biến “double knockout” gen ZmSTOMAGEN1/2  làm giảm sự biểu hiện của gen SPEECHLESS1 (SPCH1), MUTESCREAM2 (SCRM2), và STOMATAL DENSITY AND DISTRIBUTION1 (SDD1), làm suy yếu sự khởi nguyên của khí khổng và làm chuyển đổi số phận tế bào của tế bào loại hình khí khổng sớm. Đột biến này làm mật độ khí khổng ít hơn và chỉ số nhỏ hơn, dẫn đến làm suy giảm hiệu suất quang hợp thuần, tốc độ thoát hơi nước, và độ dẫn của khí khổng nhưng làm tăng hiệu quả sử dụng nước (WUE). So với dòng nguyên thủy WT (wild-type) (HiII-A × HiII-B), đột biến zmstomagen1/2 biểu thị những thay đổi đáng kể trong sinh lý học “phytohormone homeostasis” (bảo hòa điều hòa sinh trưởng thực vật). Đó là sự mất cân bằng brassinosteroid metabolite (tăng typhasterol, decreased castasterone) và điều tiết gibberellin đặc hiệu (tăng GA4, giảm GA1). Những rối loạn hormone này cho thấy sự suy yếu quá trình hình thành khí khổng trong đột biến zmstomagen1/2 từ việc gián đoạn nhiễu giữa nhiều hệ thống truyền tín hiệu hormone. Kết quả cho thấy vai trò cực trọng của ZmSTOMAGEN1/2 trong điều tiết số phận tế bào trong khí khổng đặc biệt và cung cấp một chiến lược làm sao tăng cường hiệu quả sử dụng nước (WUE) trong cây bắp bằng thao tác biểu hiện gen ZmSTOMAGEN1/2.

Xem https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0328433

Sơ đồ hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 và tiến trình chuyển nạp.

Tính kháng sâu đục rễ của bắp chuyển gen Bt

Tính kháng sâu đục rễ của bắp chuyển gen Bt

Nguồn: Bruce E. Tabashnik and Yves Carrière. 2025. Rootworm resistance to Bt associated with increased injury to corn pyramids combining Bt proteins and RNA interferencePNAS; September 18 2025; 122 (38) e2518683122;

Giống cây trồng cải biên di truyền tạo ra protein giết chết sâu hại từ nguồn cho là vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) quan lý được nhiều sâu hại chính và giảm được rất nhiều phun thuốc hóa học bảo vệ cây trồng. Tuy nhiên, sự tiến hóa của côn trùng kháng lại giống cây trồng chuyển gen Bt đã và đang làm giảm ích lợi như vậy. Các phân tích số liệu đã được công bố về sâu đục rễ (rootworms), loài côn trùng gây hại bậc nhất cây bắp tại Hoa Kỳ, cho thấy rằng tính kháng đã bị tiến hóa trên ruộng đối với Bt proteins gắn liền với tỷ lệ rễ bị sâu hại tăng lên khi trồng giống bắp chuyển gen Bt và gần đây được du nhập gen RNA can thiệp nhằm mục tiêu quản lý sâu hại rễ. Điều này làm giảm năng suất và được xem xét hết sức đặc biệt, bởi vì,  hiện tượng phơi bày trước đây rất hạn chế về tính trạng mới này. Các khuyến cáo để kiểm soát sâu hại bền vững bao gồm kết hợp nhiều tính trạng mà mỗi thứ đều có hiệu quả cao, cho nhiều cây chủ hơn mà không nhằm mục tiêu sâu phá hại rễ, rời tích hợp giống bắp transgenic với kỹ thuật luân canh cùng những sách lược khác kèm theo. Giống cây trồng GM sản sinh ra protein sát trùng từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) đã và đang làm cuộc cách mạng quản lý dịch hại cây trồng, nhưng lợi ích này bị giảm đi trước sự tiến hóa của loài côn trùng gậy hại kháng được ít nhất 31 trường hợp cụ thể. Làm chậm lại quá trình tiến hóa ấy, nông dân đang dịch chuyển sử dụng giống cây trồng được chuyển nạp 1 protein Bt thành nhiều protein được gọi là chồng gen kháng hay tích hợp gen kháng có nhiều hơn 2 protein Bt hoặc nhiều tính trạng khác nhắm vào một loài côn trùng gây hại. Người ta tập trung tính kháng sâu phái hại rễ bắp của giống bắp tích hợp gen chuyển nạp với sâu Diabrotica virgifera virgifera và sâu Diabrotica barberi, mà chúng đã gây thiệt hại mỗi năm tại vùng trồng bắp Hoa Kỳ lên đến 2 tỷ đô la. Tác giả phân tích 998 dữ liệu có liên quan giai đoạn 2005 - 2023 từ 12 nghiên cứu trên đồng ruộng đã được công bố. Kết quả này hỗ trợ cho giả thuyết là tính kháng sâu hại rễ với protein Bt Cry3Bb và Gpp34/Tpp35Ab làm giảm đi hiệu quả của những gen tích hợp, mã hóa một hoặc cả hai loại hình protein và một tính trạng điều khiển bởi “RNA interference” (RNA can thiệp) (DvSnf7) nhằm vào sâu hại rễ bắp, mặc dù không có sự kháng chéo mạnh rõ ràng giữa những Bt proteins và DvSnf7. Hiệu quả chồng gen kháng giảm từ Bt proteins và DvSnf7 kéo theo sự tổn thưởng của rễ bắp tăng thêm và sự xuất hiện của bọ cánh cứng trưởng thành. Hiệu quả của DvSnf7 thấp hơn đáng kể để giảm thiểu sự tổn thương rễ so với mật độ sâu xuất hiện. Bởi vì, rễ tổn kéo theo sự giảm năng suất, tổ thương rễ bắp tăng kéo theo hiệu quả cụ thể ngay lập tức. Sự kiểm soát bền vững hơn bằng cách thông qua tích hợp gen với những tính trạng mà mỗi loại hình đều có hiệu quả cao chống lại sâu hại rễ, làm tăng số lượng trong cây chủ mà không nhắm vào sâu hại rễ, rồi kết hợp giống bắp transgenic với kỹ thuật luân canh cũng như những kỹ thuật khác trong quản lý dịch hại thuộc chương trình IPM.

Xem https://www.pnas.org/doi/10.1073/pnas.2518683122

Gen ZmHSFA2d điều tiết tích cực giúp cây bắp non chống chịu nóng và khô hạn

 Gen ZmHSFA2d điều tiết tích cực giúp cây bắp non chống chịu nóng và khô hạn

Nguồn: Yongyan CaoChunyu ZhangXuanxuan ChenTuo ZengHongcheng WangXuye DuXun WuBin Zhu & Lei Gu. 2025. ZmHSFA2d positively regulates maize seedling heat and drought tolerance by modulating photosystem protein synthesis

ZmHSFA2d giúp cây bắp tăng cường sức chống chịu nóng và khô hạn thông qua làm an toàn được sinh lý cân bằng quang hợp (photosynthesis homeostasis), và biểu hiện gen này làm tăng hoạt trực tiếp bởi ZmbHLH124. Stress do nhiệt độ nóng ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng và phát triển của cây, năng suất cuối cùng. Tuy vậy, nhiều giống bắp (Zea mays) mang HSFs (heat shock factors) vẫn chưa được định tính. Các tác giả đã cho thấy vai trò của ZmHSFA2d trong tính trạng chịu nóng. Phân tử transcript của gen ZmHSFA2d tăng lên đáng chú ý khi bị “heat shock”. ZmHSFA2d định vị trong nhân và đóng vai trò hoạt hóa trong men (yeast). Dưới nghiệm thức xử lý “heat shock”, cây bắp non biểu thị mạnh mẽ gen ZmHSFA2d có khả năng chịu nóng tốt hơn, nó tăng hoạt tính enzymes có tính chất antioxidant, làm giảm gốc ô xi tự do ROS (reactive oxygen species) và giảm hàm lượng malondialdehyde (MDA) so với đối chứng; tuy nhiên, những ảnh hưởng như vậy đã bị đảo ngược khi knockout gen đích theo hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9. Phân tích RNA-Seq cho thấy sự biểu hiện của những gen này mã hóa những “ribosomal proteins”, bao gồm protein gắn với  lắp ghép ribosome và tiến trình dịch mã, đã giảm đáng kể trong cây bắp mang gen ZmHSFA2d-KO. Phân tích số lượng hệ thống proteome chỉ ra rằng so với đối chứng, biểu hiện của những proteins chủ chốt [chlorophyll a/b binding proteins và NAD(P)H dehydrogenase (NDH) complex subunits] trong quang hợp giảm rất đáng kể trong dòng bắp mang gen ZmHSFA2d-KO. Hơn nữa, sử dụng Y1H, EMSA, Dual-Luciferin assays, và maize mesophyll protoplast expression, người ta thấy rằng ZmbHLH124, đáp ứng với cả stress nóng và khô hạn, đã điều tiết kiểu “up” trực tiếp những transcripts của gen ZmHSFA2d. Bổ sung, ZmHSFA2d điều tiết tích cực khả năng chịu hạn của bắp so vối cây nguyên thủy WT, những gen của ribosomal protein của cây bắp mang gen ZmHSFA2d-KO cũng giảm đáng kể khi bị stress khô hạn. Nhín chung, kết quả xác định ZmHSFA2d điều tiết tích cực tính chống chịu nóng và khô hạn của cây bắp thông qua điều chỉnh quá trình hình thành protein. Nghiên cứu góp phần vào sự hiểu biết về vai trò của HSFs trong cơ chế  thermotolerance của cây bắp và thu được nguồn vật liệu di truyền phục vụ cải tiến giống bắp cao sản chống chịu nhiều stress cùng một lúc.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-025-05052-1

Tuesday, December 3, 2024

Tăng tốc qúa trình quang hợp ở cây ngô giúp tăng năng suất

 Tăng tốc qúa trình quang hợp ở cây ngô giúp tăng năng suất 

Các nhà khoa học vừa tăng cường một enzyme hấp thu carbon có tên RuBisCO để tăng tốc quá trình quang hợp ở cây bắp. Phát hiện hứa hẹn là một bước tiến quan trọng trong việc cải thiện hiệu suất và năng suất nông nghiệp, theo một nghiên cứu mới

Các nhà khoa học từ Viện Boyce Thompson (BTI) và Đại học Cornell (Mỹ) vừa tăng cường một enzyme hấp thu carbon có tên RuBisCO để tăng tốc quá trình quang hợp ở cây bắp. Phát hiện hứa hẹn là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và năng suất nông nghiệp, theo một nghiên cứu mới đăng trên tạp chí Nature Plants.

Hàm lượng RuBisCO tăng hỗ trợ cỗ máy sinh học được sử dụng trong quá trình quang hợp của cây bắp để kết hợp carbon dioxide khí quyển vào carbohydrate.

“Mọi quá trình trao đổi chất chẳng hạn như quang hợp đều có sự tương đương với đèn hiệu giao thông hay gờ giảm tốc. RuBisCO thường là một yếu tố kìm hãm trong quá trình quang hợp. Mặc dù vậy, với RuBisCO tăng, gờ giảm tốc này được hạ xuống, dẫn tới hiệu suất quang hợp được cải thiện”, nhà sinh học thực vật David Stern cho biết.

RuBisCO thực tế có tên khoa học chính thức đó là Ribulose-1,5-bisphosphate carboxylase/oxygenase, một enzyme giúp chuyển đổi carbon dioxide thành đường. Người ta nhìn chung thừa nhận rằng nó là một enzyme phong phú nhất quả đất.

Nhưng đối với thế giới nông nghiệp thương mại và hệ thống quang hợp C4 (hợp chất 4 carbon) của cây bắp, RuBisCO hoạt động chậm chạp. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một cách để biểu hiện quá mức một enzyme hỗ trợ quan trọng có tên tên yếu tố lắp ráp 1 RuBisCO hay viết tắt là RAF1 để giúp sản xuất nhiều RuBisCO hơn.

Tác giả dẫn đầu nghiên cứu, nghiên cứu sinh tiến sĩ về lĩnh vực sinh học thực vật Coralie Salesse cho biết: “Nó cần sự trợ giúp từ các protein khác để tự lắp ráp”.

Với enzyme hỗ trợ này, các nhà khoa học thực tế đã hạ thấp một gờ giảm tốc khác – một thứ hạn chế tốc độ mà RuBisCO có thể đạt được kiến trúc sinh học phù hợp – dẫn tới cây trồng tích lũy chất này nhiều hơn.

Cơ chế chính xác về cách RuBisCO được lắp ráp vẫn còn là một bí ẩn trong nhiều năm cho đến khi protein RAF1 và RAF2 được phát hiện, Salesse cho biết. Salesse đã tiến hành một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ở Đại học quốc gia Úc và tại Đại học Illinois. Ông phát hiện ra rằng tăng RuBisCO khiến thực vật sinh trưởng nhờ khí nhà kính ra hoa sớm hơn, mọc cao hơn và cho nhiều sinh khối hơn.

“Bắp là một cây trồng quan trọng nhưng ngốn nhiều đất đai và năng lượng và giảm vết tích môi trường của nó là điều quan trọng. Chỉ chỉ riêng nước Mỹ, bắp được trồng trên khoảng 90 triệu mẫu và gần 15 tỉ giạ bắp đã được sản xuất trong những năm gần đây”, Stern cho biết. Ông giải thích rằng có nhiều phương pháp khác nhau để tăng sinh khối trên mỗi mẫu đất như tăng cường quang hợp vốn có thể tăng trọng lượng mỗi trái bắp và do đó làm tăng sản lượng trên mỗi mẫu.

Stern lưu ý rằng cùng phương pháp này có thể hứa hẹn cải thiện năng suất ở những cây trồng C4 khác như lúa miến và mía đường.

“Khi chuyển từ nhà kính và vào đồng ruộng, chúng tôi hy vọng rốt cuộc sẽ quan sát được sự sinh trưởng và năng suất cải thiện ở các giống cây sản xuất. Tăng tốc RuBisCO cung cấp nền tảng để có tác động sâu sắc đối với đối với khả năng trưởng thành và sản xuất sinh khối của cây bắp, đặc biệt khi kết hợp với các phương pháp khác”, ông cho biết thêm.

Dẫn theo https://dost-dongnai.gov.vn

Sunday, December 1, 2024

Di truyền tính chịu khô hạn của bắp do gen ZmABF4-ZmVIL2/ZmFIP37, giai đoạn cây non

 Di truyền tính chịu khô hạn của bắp do gen ZmABF4-ZmVIL2/ZmFIP37, giai đoạn cây non

Nguồn: Dongling ZhangShixiang MaZhixue LiuYuwei YangWenjing YangHaixia ZengHuihui SuYang YangWanjun ZhangJing ZhangLixia KuZhenzhen RenYanhui Chen. 2024. ZmABF4-ZmVIL2/ZmFIP37 module enhances drought tolerance in maize seedlings. Plant Cell Environ.; 2024 Sep; 47(9):3605-3618. doi: 10.1111/pce.14954.

 

Khô hạn, một yếu tố ngoại cảnh chủ yếu, cho thấy những hạn chế đáng kể tiến trình phát triển và năng suất cây trồng. PHDs được xác định là gen đáp ứng với stress trong phần lớn các loài sinh học thuộc eukaryotes. Tuy nhiên, cơ chế điều tiết đối với các gen PHD trong điều kiện stress phi sinh học chưa được người ta biết nhiều, cần phải nghiên cứu sâu hơn. Ở đây, các tác giả tiến hành phân lập gen đột biến, zmvil2, một đột biến bằng hóa chất EMS với vị trí đột biến C thành T trong đoạn exon của gen đích Zm00001d053875 (VIN3-like protein 2, ZmVIL2), cho kết quả “chấm dứt sớm mã hóa protein coding”.

 

ZmVIL2 thuộc họ protein PHD. So với dòng nguyên thủy WT, đột biến zmvil2 biểu hiện mức nhạy cảm tăng đối với stress khô hạn. Đồng thời, sự biểu hiện mạnh mẽ của gen ZmVIL2 làm tăng tính chống chịu khô hạn của cây bắp. Các nghiệm thức Y2H, BiFC, và Co-IP cho thấy rằng ZmVIL2 tương tác trực tiếp với ZmFIP37 (tương tác protein FKBP12 của 37). Đột biến knockout zmfip37 cũng biểu hiện tính trạng chống chịu khô hạn giảm đi. Lý thú là, người ta cho thấy ZmABF4 gắn kết trực tiếp với promoter của ZmVIL2 để làm tăng cường hoạt động của nó trong xét nghiệm “yeast one hybrid” (Y1H), xét nghiệm EMSA (electrophoretic mobility shift assay)  và xét nghiệm “dual luciferase reporter assays”. Do vậy, người ta phát hiện ra một mô hình mới ZmABF4-ZmVIL2/ZmFIP37 thúc đẩy khả năng chống chịu khô hạn của cây bắp. Tóm lại, phát hiện này làm giàu kiến thức nghiên cứu về chức năng của các gen PHD của hệ gen cây bắp và cung cấp nguồn vật liệu di truyền phục vụ cải tiến giống bắp cao sản chống chịu khô hạn.

 

Xem https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38747469/

Một liên kết protein bất ngờ trong quá trình sinh trưởng và phòng vệ của ngô có thể tăng khả năng thích ứng của cây trồng

 Một liên kết protein bất ngờ trong quá trình sinh trưởng và phòng vệ của ngô có thể tăng khả năng thích ứng của cây trồng

Ngô là một trong những cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới và đã được nghiên cứu rộng rãi. Tuy nhiên, nhiều khía cạnh của cơ chế di truyền điều chỉnh sự sinh trưởng và phát triển của nó vẫn chưa được khám phá.

 

Nghiên cứu gần đây cho thấy một họ protein có tên là COI1, trước đây liên quan đến cơ chế phòng vệ ở các loài thực vật khác như cây Arabidopsis và lúa, chủ yếu điều chỉnh sự phát triển ở ngô. Phát hiện này có thể dẫn đến việc phát triển các giống ngô khỏe và năng suất hơn.

 

Ở thực vật, sinh trưởng và phòng vệ thường xung đột. Khi cây tập trung vào việc phòng vệ chống lại sâu bệnh, sinh trưởng thường chậm lại do sự tương tác đối lập giữa các protein ức chế gen phòng vệ, được gọi là JAZ (miền ZIM jasmonate) và các protein ức chế gen sinh trưởng (DELLA). Protein COI đóng vai trò then chốt trong việc cân bằng hai quá trình này bằng cách phân hủy JAZ.

 

Nghiên cứu tập trung vào sáu protein COI trong ngô, được chia thành hai nhóm: COI1 và COI2. Những cây đột biến được tạo ra thiếu một, hai hoặc cả bốn protein COI1. Tuy nhiên, không thể tạo ra các cây đột biến thiếu cả hai protein COI2 vì phấn hoa thiếu cả hai bị chết. Điều này chỉ ra rằng protein COI2 đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh thực của bộ phận đực và sự phát triển của phấn hoa ở ngô.

 

Điều ngạc nhiên thực sự đến từ những cây thiếu cả bốn protein COI1. “Những cây đột biến 'COI1-4x' này biểu hiện sự tăng trưởng chậm lại đáng kể so với cây ngô hoang dại”, Leila Feiz, tác giả đầu tiên và đồng tác giả liên hệ của nghiên cứu mới được công bố trên The Plant Cell, cho biết. “Điều này trái ngược với kỳ vọng của tôi vì các đột biến COI thường dẫn đến sự phát triển cao hơn ở các loài khác như cây Arabidopsis và lúa”.

 

Feiz giải thích thêm: “Ở các cây đột biến C3 COI, chẳng hạn như cây Arabidopsis, việc thiếu sự phân hủy JAZ bởi COI dẫn đến DELLA bị JAZ bẫy. Điều này tạo ra các gen tăng trưởng do axit gibberellic gây ra, thường bị DELLA ức chế khi không có axit gibberellic. Ngược lại, các cây hoang dại được xử lý liên tục bằng axit jasmonic sẽ phát triển thấp hơn các cây không được xử lý. Điều này là do COI nhận biết axit jasmonic và phân hủy JAZ.

 

“Sự phân hủy kích hoạt các gen phòng vệ và giải phóng DELLA khỏi sự bẫy JAZ, do đó ức chế sự tăng trưởng. Không giống như các đột biến COI của cây Arabidopsis và lúa, mà cho thấy biểu hiện kiểu hình cao hơn so với cây hoang dại của chúng, đột biến cả bốn protein COI1 của ngô biểu hiện sự phát triển thấp hơn so với các đột biến kép và các cây hoang dại của nó”.

 

Phân tích sâu hơn cho thấy rằng các protein COI1 của ngô có thể đã phát triển một chức năng mới: phân hủy các protein DELLA, ức chế sự tăng trưởng của cây. Feiz đề xuất phá vỡ các DELLA để ức chế sự tăng trưởng này, các protein COI1 cho phép ngô tiếp tục phát triển ngay cả khi tự vệ trong điều kiện có nồng độ axit jasmonic cao - có nhiều trong các loại cây được trồng ở vùng khí hậu nóng và khô cằn, nơi các loại cây C4, chẳng hạn như ngô và mía, đã tiến hóa.

 

Vai trò mới này của COI1 trong việc điều chỉnh nồng độ DELLA và sự tăng trưởng có thể là một sự thích nghi đã giúp ngô và có thể là các loại cây C4 khác phát triển mạnh trong những môi trường như vậy - một động lực thúc đẩy quá trình tiến hóa của C4. Bằng cách tách rời các phản ứng tăng trưởng và phòng vệ, ngô và các loại cây C4 khác như lúa miến có thể duy trì sự tăng trưởng mạnh mẽ ngay cả khi phải đối mặt với các căng thẳng về môi trường thường hạn chế sự tăng trưởng.

 

Dự án bắt đầu cách đây gần năm năm với một số ít cây đột biến đơn được cứu khỏi một dự án bị bỏ dở. Kevin Ahern, khi đó là quản lý thực địa và là nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm của Georg Jander tại Viện Boyce Thompson, đã cứu chúng bằng cách thụ phấn và thu thập hạt giống của chúng.

 

Vài tháng sau, Feiz, một nhà nghiên cứu tại phòng thí nghiệm của Jander, đã tiếp quản những hạt giống đột biến để tiếp tục dự án. Trong suốt quá trình nghiên cứu này, cô đã hợp tác với một số nhà khoa học khác, bao gồm Shan Wu, nhà nghiên cứu sau tiến sỹ tại phòng thí nghiệm của Zhangjun Fei, người đã giúp phân tích một tập dữ liệu giải trình tự RNA lớn.

 

Nghiên cứu này mở ra những khả năng mới để tăng cường khả năng thích ứng và năng suất của cây trồng bằng cách tiết lộ cách protein COI tương tác với protein DELLA và các thành phần khác của con đường truyền tín hiệu của cây. Nghiên cứu này nêu bật cách nghiên cứu cơ bản về sinh học thực vật có thể khám phá ra những sự thích nghi tiến hóa hấp dẫn và dẫn đến những tiến bộ trong nông nghiệp thực tế.

 

Nguyễn Tiến Hải theo Phys.org