CÂY NGÔ VIỆT NAM

Tuesday, November 7, 2023

Phân tích transcriptome cây bắp và tính chống chịu mặn; đặc biệt là anthocyanidins

Phân tích transcriptome cây bắp và tính chống chịu mặn; đặc biệt là anthocyanidins

 Nguồn: Jie Wang, Zhipeng Yuan, Delin Li, Minghao Cai, Zhi Liang, Quanquan Chen, Xuemei Du, Jianhua Wang, Riliang Gu, Li Li. 2023. Transcriptome Analysis Revealed the Potential Molecular Mechanism of Anthocyanidins' Improved Salt Tolerance in Maize Seedlings. Plants (Basel); 2023 Jul 27; 12(15):2793. doi: 10.3390/plants12152793.

 

Anthocyanin, một loại hình của flavonoid, đóng vai trò quan trọng giúp cây kháng với stress phi sinh học. Stress mặn là ví dụ, nó có thể làm tổn hại đến tăng trưởng và phát triển của cây bắp non. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu được tiến hành về phản ứng với stress mặn của cây bắp non qua sự tích tụ anthocyanin, và cơ chế phân tử của nó. Do đó, sẽ có một ý nghĩa đáng kể  nếu nghiên cứu sự tăng trưởng và phát triển bình thường của cây bắp non để khai thác khả năng của chúng ở mức độ phân tử của anthocyanin trong cải tiến tính trạng chịu mặn của cây non thông qua phân tích hệ transcriptome cây bắp. Người ta phân lập được hai dòng bắp cận giao W22 (dòng chống chịu pur-W22 và dòng nhiễm bro-W22) biểu hiện kết quả chống chịu khác biệt nhau đối với stress mặn trong thời gia cây con trên cơ sở xét nghiệm tăng trưởng và phát triển của cây, nhưng kết quả không có gì khác biệt ý nghĩa xét theo đặc điểm của cây bắp non trong điều kiện không xử lý. Muốn xác định gen đặc biệt có trong giai đoạn cây con phản ứng với stress mặn, người ta tạo ra 2 quần thể RILs (cận giao tái tổ hợp). Đó là RILpur-W22 và RILbro-W22 từ cặp lai giữa pur-W22 và bro-W22. Sau đó, người ta tiến hành phân tích transcriptome từ những cây bắp non được trong trong nghiệm thức stress mặn và nghiệm thức bình thường. Có tất cả 6.100 và 5.710 gen DEGs (differentially expressed genes) được người ta xác định trong quần thể RILpur-W22 và RILbro-W22, theo thứ tự, trong điều kiện stress mặn, khi so sánh với nhóm không xử lý. Trong số các gen DEGs này, có 3.160 gen được xác định có mặt trong cả 2 quần thể RILpur-W22 và RILbro-W22. Chúng đóng vai trò EDGs bị stress khá phổ biến mà chủ yếu ở trong tiến trình “redox”, tiến trình “monomer metabolic”, hoạt động xúc tác, ở trong màng plasma, và điều tiết tiến trình biến dưỡng. Bên cạnh đó, người ta tìm thấy 1.728 gen DEGs đặc biệt trong các dòng bắp chống chịu mặn của quần thể RILpur-W22 mà chúng không được tìm thấy trong quần thể nhiễm mặn RILbro-W22, theo đó, có 887 gen điều tiết theo kiểu “up” và 841 gen theo kiểu “down”. Những gen DEGs như vậy sơ khởi gắn kết với  các tiến trình sinh lý “redox”, điều tiết sinh học, và ở màng plasma. Chú ý, gen có chức năng tổng hợp anthocyanin trong quần thể RILpur-W22 kích thích mạnh mẽ trong nghiệm thức xử lý mặn, chúng tỏ ra nhất quán về kiểu hình chịu mặn của cây bắp non. Kết quả phân tích transcriptome không những chỉ mở ra tầm hiểu biết mới về cơ chế phân tử phúc tạp của anthocyanin để cải tiến tính chịu mặn của cây bắp non, mà còn cho kết quả biểu hiện gen DEGs trong các dòng bắp chịu mặn (RILpur-W22) cung cấp những gen ứng cử viên phục vụ nghiên cứu sâu di truyền.

 

Xem  https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/37570948/

Các nhà khoa học tăng cường amino acid trong ngô

 Các nhà khoa học tăng cường amino acid trong ngô

Nguyễn Thị Quỳnh Thuận theo ARS.

Các dòng ngô thử nghiệm được phát triển bởi một nhóm thuộc Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp (ARS) và các nhà khoa học của trường đại học sẽ tạo ra các giống ngô lai thương mại mới mà hạt có hàm lượng methionine cao.

 

Nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Crop Science gần đây, sẽ là tin tức đặc biệt đáng hoan nghênh đối với các nhà sản xuất gia cầm hữu cơ mà gia cầm của họ yêu cầu các công thức chứa axit amin trong chế độ ăn để đảm bảo sự tăng trưởng, sức khỏe và sản xuất thịt và trứng tối ưu.

 

Là một trong chín axit amin thiết yếu và chỉ có hai axit chứa lưu huỳnh, methionine giúp khởi động quá trình tổng hợp protein và là thành phần chính của nhiều tế bào mô, bao gồm xương, cơ, dây chằng, các cơ quan, da và lông ở gia cầm. Methionine cũng củng cố các chức năng trao đổi chất, tiêu hóa và miễn dịch quan trọng.

 

Trong các hệ thống sản xuất hữu cơ có đồng cỏ, gà thả rông và các loại gia cầm khác có thể thu được methionine một cách tự nhiên từ việc ăn giun, sâu, côn trùng và một số loại thực vật. Tuy nhiên, việc bổ sung methionine tổng hợp vào khẩu phần ăn của chúng trong thức ăn làm từ ngô là cần thiết để đảm bảo gia cầm nhận được đủ lượng axit amin.

 

Các nhà sản xuất hữu cơ có thể thực hiện điều này theo quy định miễn trừ liên bang mà cho phép sử dụng tối đa 2 pound (900g) methionine tổng hợp trên mỗi tấn thức ăn cho gà và 3 pound (1350g) mỗi tấn cho gà tây, vịt và các loại gia cầm khác. Trong khi đó, nghiên cứu đang được tiến hành, bao gồm cả dự án này, để tìm ra các chất thay thế tự nhiên mà chi phí và tính sẵn có hứa hẹn sẽ thay thế hoàn toàn nhu cầu về methionine tổng hợp.

 

Ví dụ, ngô là thành phần chính trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi hiện nay; tuy nhiên, hạt từ các giống lai được trồng thương mại chứa rất ít methionine. May mắn thay, có những nguồn biến đổi về tính trạng trong các bộ sưu tập nguồn gen có thể được phát hiện bằng các công cụ phù hợp.

 

Kỹ thuật di truyền đưa ra một cách tiếp cận; tuy nhiên, các giống cây trồng chuyển gen không được phép sử dụng trong các hệ thống sản xuất hữu cơ. Để giải quyết vấn đề này, nhà di truyền học thực vật Paul Scott và các đồng nghiệp của ARS đã kết hợp việc sử dụng hai phương pháp nhân giống cây trồng thông thường - đó là cảm ứng đơn bội gấp đôi và chọn lọc tái diễn.

 

Loại ngô mới giàu methionine được phát triển. (Peggy Greb, D1915-1).

 

Bằng cách sử dụng các phương pháp này, họ đã phát triển được 16 dòng ngô thuần chủng có hàm lượng hạt methionine ngang bằng và trong một trường hợp còn vượt qua B101, một giống ngô lai đã được chứng minh là một tiêu chuẩn so sánh hữu ích vì hàm lượng methionine cao tự nhiên. Scott, thuộc Đơn vị nghiên cứu di truyền cây trồng và côn trùng ngô ARS ở Ames, Iowa, cho biết: “B101 thường chứa khoảng 0,29g methionine trên 100g ngũ cốc và các dòng tốt nhất của chúng tôi có khoảng 0,37g trên 100g.

 

Như một phần thưởng được bổ sung, một số dòng cận huyết cũng cho thấy sự đa dạng di truyền đáng kể ở một số đặc điểm nông học nhất định khi được đánh giá trong các thử nghiệm thực địa - chiều cao cây, ngày ra hoa, khả năng kháng bệnh và hạt màu cam trong số đó.

 

Các đánh giá bổ sung đã được lên kế hoạch, bao gồm các thử nghiệm cho gia cầm ăn.

 

“Điều quan trọng là phải kiểm tra các dòng này trong các tổ hợp lai và trong các môi trường khác nhau để hiểu mức độ ổn định của tính trạng và tiềm năng năng suất của chúng là bao nhiêu. Ngoài ra, chúng tôi muốn kết hợp lượng methionine cao với các đặc tính khác có giá trị cho các nhà sản xuất gia cầm hữu cơ”, Scott cho biết. “Hạt cam là loại hạt chúng tôi đang nghiên cứu, cũng như khả năng loại trừ phấn hoa chuyển gen. Cuối cùng, chúng tôi muốn phát triển ngô có thể cung cấp một chế độ ăn uống hoàn chỉnh mà không cần bổ sung.

Xác định QTLs điều khiển ưu thế lai: mô phỏng GWAS mới ứng dụng cho cây bắp

 Xác định QTLs điều khiển ưu thế lai: mô phỏng GWAS mới ứng dụng cho cây bắp

Nguồn: Aurélien Beugnot, Tristan Mary-Huard, Cyril Bauland, Valerie Combes, Delphine Madur, Bernard Lagardère, Carine Palaffre, Alain Charcosset, Laurence Moreau & Julie B. Fievet. 2023. Identifying QTLs involved in hybrid performance and heterotic group complementarity: new GWAS models applied to factorial and admixed diallel maize hybrid panels. Theoretical and Applied Genetics; 10 October 2023; vol.136; Article no. 219

 

Một mô phỏng GWAS nguyên thủy tích hợp các alen tổ tiên cây bắp được đề nghị và được cho phép nghiên cứu tìm thấy cơ sở di truyền những QTLs có bản chất cộng tính (additive) và bản chất dị hợp trội (dominance) trong tập đoàn bắp lai mang tính chất bổ sung và mang tính chất ưu thế lai (hybrid performance).

 

Đa dạng di truyền cây bắp được cấu trúc thành những nhóm di truyền (genetic groups) qua sàng lọc và qua con lai được cải tiến. Tiến trình như vậy làm tăng tính chất bổ sung cho nhóm (group complementarity) và tính chất biệt hóa nhóm (differentiation) theo thời gian và chắc chắn rằng những hybrids như vậy sản sinh ra từ tạp giao giữa các nhau (inter-group crosses) biểu hiện hiệu quả cao và dị hợp tử. Mốn xác định được loci bao gồm tính hiệu quả cao của ưu thế lai và bổ sung vào nhóm dị hợp, người ta tiến hành du nhập một mô hình thuật toán có tên “original association study” mà mô hình này gai3i quyết các hiệu ứng “allelic”từ nguồn tập đoàn giống dị hợp tử  của nhiều alen và so sánh nó với mô hình toán cô điển về “additive/dominance” (cộng/trội: đồng hợp/dị hợp). Mô phỏng toán mới này được áp dụng kiểu giai thừa (factorial) giữa dòng bắp Dent và bắp Flint, qua phân tích diallel giữa hổn hộp “Dent-Flint admixed lines” có hai nhóm phân tích khác nhau: trong mỗi môi trương và trong nhiều môi trường. Người ta xác định được nhiều QTLs tương tác cộng tính (additive) đối với tất cả tính trạng nghiên cứu, bao gồm vài loại hình “additive QTLs” nổi tiếng đối với tính trạng ngày trổ bông (trong vùng Vgt1/2 trên nhiễm sắc thể 8). Tính trạng năng suất bới các gen tương tác có ý nghĩa theo “non-additive” (không cộng tính) trong phân tích diallel. Hầu hết những QTLs liên quan đến năng suất được tìm thấy biểu hiện bản chất overdominance (siêu trội) hoặc, pseudo-overdominance (siêu trội tạm thời). Siêu trội tạm thời tại những QTLs như vậy đóng góp một phần vào kết quả bổ sung vào nhóm di truyền. So sánh giữa những môi trường khác nhau cho thấy có sữ ổn định cao hơn của những “additive QTL” so với “non-additive QTLs”. Nhiều QTLs biểu hiện biến dị di truyền tùy theo nguồn gốc vật liệu di truyền dị hợp ở địa phương. Người ta ghi nhận ở những vùng của nhiễm sắc thể lớn biểu thị ảnh hưởng của vật liệu di truyền nguyên thủy. Như vậy, kết quả này chúng minh được rằng làm thế nào để tập đoàn giống bắp có tính chất “admixed” (pha trộn) kết hợp được với mô phỏng GWAS cho phép người ta xác định những QTLs mới mà mô hình thuật toán cũ không thể giải thích được.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04431-w

“Fine mapping” gen ứng cử viên phục hồi phấn hoa, kiểu C, bất dục đực tế bào chất của cây bắp (Zea mays L.)

 “Fine mapping” gen ứng cử viên phục hồi phấn hoa, kiểu C, bất dục đực tế bào chất của cây bắp (Zea mays L.)

Nguồn: Peng Zhang, Zhuofan Zhao, Mingmin Zheng, Yongming Liu, Qunkai Niu, Xiaowei Liu, Ziwen Shi, Hongyang Yi, Tao Yu, Tingzhao Rong & Moju Cao. 2023. Fine mapping and candidate gene analysis of a novel fertility restorer gene for C-type cytoplasmic male sterility in maize (Zea mays L.). Theoretical and Applied Genetics November 2023; vol. 136, Article number: 234

 

Một gen phục hồi phấn hóa mới, rất mạnh là Rf12 thuộc kiểu C, bất dục đực tế bào chất của cây bắp được tiến hành “fine-mapped” trên nhiễm sắc thể 2. Gen Zm00001d007531 là ứng cử viên tốt nhất được dự đoán là mã hóa protein p-type PPR.

 

Sự thiếu gen phục hồi phấn hóa mạnh mẽ của cây bắp CMS-C hạn chế rất lớn công nghệ ứng dụng hạt lai đại trà. Do đó, người ta tiến hành dòng hóa (cloning) gen phục hồi phấn hoa mới của bắp loại hình bất dục đực CMS-C. Theo đó, một dòng rất mạnh có khả năng phục hồi phấn hoa ZH91 của loại hình bắp CMS-C được người ta tìm thấy. Gen phục hồi phấn hóa mới này có tên là Rf12 trong giống bắp ZH91 đã được người ta làm bản đồ di truyền trong quãng phân tử 146 kb độ lớn vật lý, trên nhiễm sắc thể 2. Sử dụng phương pháp giải trình tự thế hệ Ba có tên “third-generation high-throughput sequencing” (viết tắt ONT), trình tự DNA toàn bộ hệ gen của giống bắp ZH91 được thu thập, với thông tin “annotation” (diễn dịch di truyền) tích hợp trong hệ gen tham chiếu B73_RefGen_v4 và B73_RefGen_v5, bốn gen ứng cử viên được người ta dự đoán trong ZH91 ở vùng lập bản đồ di truyền. Sau đó, người ta sử dụng kỹ thuật “gene cloning”, “stranded specific RNA sequencing”, “phân tích qRT-PCR” và kỹ thuật định vị có tính chất “subcellular”, gen Zm00001d007531 được phân lập thành công như một gen ứng cử viên mong muốn nhất của gen Rf12. Zm00001d007531 mã hóa protein tên là p-type PPR có tất cả 19 PPR motifs và đích đến tại ty thể bộ và lục lạp. Giải trình tự dây đơn RNA (stranded specific RNA sequencing) và phân tích qRT-PCR cho thấy sự biểu hiện của Zm00001d007531 giữ những bao phấn của dòng NILs (near-isogenic lines) C478Rf12Rf12 và C478rf12rf12 khác biệt có ý nghĩa về giai đoạn tế bào mẹ hạt phấn (pollen mother cell stage). Kết quả so sánh chuỗi trình tự tham chiếu (sequence alignment) đối với gen Zm00001d007531 trong 60 vật liệu giống bắp khẳng định rằng mười hai chỉ thị SNPs p73 vùng mật mã di truyền (CDS) của Zm00001d007531 Liên kết rắt chặt chẽ với tính trạng hữu thụ. Việc tím thấy nguồn di truyền mới có tính chất phục hồi phấn hóa mạnh mẽ của ZH91 đối với loại hình bất dục đực kiểu CMS-C có thể ứng dụng rộng rải dòng bắp CMS-C phục vụ sản xuất hạt bắp lai, việc xác định gen ứng cử viên Zm00001d007531 có thể thúc đẩy tiến trình hồi giao gen Rf12 phục hồi phấn hoa loại hình CMS-C.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04480-1

Xây dựng cơ sở dữ liệu các gen liên quan đến tính trạng chất lượng dinh dưỡng ở Ngô Việt Nam

  Xây dựng cơ sở dữ liệu các gen liên quan đến tính trạng chất lượng dinh dưỡng ở Ngô Việt Nam

Đ.T.V - NASATI.


Ngô (Zea mays L.) là cây nông nghiệp một lá mầm thuộc chi Zea, họ hòa thảo (Poaceae hay còn gọi là Gramineae). Ngô có nguồn gốc từ teosinte hoặc một số loài hoang dại rất gần với teosinte, được thuần hóa từ Nam và Tây nam của Mexico (Wilkes, 2004; Sluyter và Dominguez, 2006). Hiện nay Trung tâm Nghiên cứu quốc tế về cải tiến ngô và lúa mỳ (CIMMYT) đang lưu giữ 27,000 mẫu nguồn gen trên tổng số 47,000 nguồn gen ngô đang được lưu giữ tại các ngân hàng gen trên toàn thế giới (Taba, 2005). Phần lớn các mẫu nguồn gen đang được lưu giữ là các giống ngô bản địa bao gồm Teosinte và Trispsacum. Ngô trồng được thuần hóa hiện nay được chia thành khoảng 300 nhóm giống bản địa (landraces) (Goodman và Brown, 1988). Ngô thương mại hiện đại diện cho chỉ một phần nhỏ trong số 300 nhóm giống ngô bản địa. Rất ít các giống bản địa được thương mại hóa, có thể chỉ đại diện cho từ 5 đến 10% các giống bản địa của Tân thế giới, là tổ tiên của số lượng lớn các nguồn gen ngô được phân bố rộng ở châu lục cũ.

Giá trị dinh dưỡng của Ngô trong hạt ngô bao gồm 70-75% đường, tinh bột, 8-10% protein và 4-5% tinh dầu. Hàm lượng tiền vitamin A và các axit amin thiết yếu như lyzin và tryptopan cũng là những đặc tính dinh dưỡng quan trọng cần hướng tới trong các chương trình chọn tạo giống ngô dinh dưỡng. Các đặc tính liên quan tới giá trị dinh dưỡng của ngô này được thể hiện thông qua các biến dị di truyền tự nhiên sẵn có. Xác định và điều khiển được các gen quan trọng này sẽ mở ra hướng mới thiết kế các tổ hợp biến dị quan trọng làm thay đổi giá trị dinh dưỡng của ngô, hướng đến mục tiêu chọn tạo giống ngô có hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, đáp ứng được nhu cầu trong tương lai.

 

Tuy nhiên, sự quan tâm về tập đoàn ngô địa phương chỉ mới dừng ở mức độ thu thập và lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia. Trung tâm Trung tâm Tài nguyên thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã và đang lưu giữ hàng ngàn nguồn gen ngô địa phương với các thông tin kiến thức bản địa được thu thập. Nhưng các nghiên cứu đánh giá chuyên sâu về các đặc tính có tầm quan trọng kinh tế nói chung và tính trạng chất lượng nói chung chưa được thực hiện trên tập đoàn ngô địa phương. Vì vậy, dữ liệu này chưa có nhiều ý nghĩa đáng có trong khai thác và sử dụng đối với các nhà chọn tạo giống.

 

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu các gen liên quan đến tính trạng chất lượng dinh dưỡng ở Ngô Việt Nam”, do TS. Trần Thị Thu Hoài làm Chủ nhiệm, Trung tâm Tài nguyên thực vật chủ trì, đã được thực hiện với mục tiêu: Xây dựng được cơ sở dữ liệu các gen liên quan đến tính trạng chất lượng dinh dưỡng chủ yếu có giá trị của tập đoàn ngô Việt Nam phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai chất lượng cao.

 

Nghiên cứu về các đột biến ngô đã giúp làm sáng tỏ các gen chính tham gia vào quá trình tổng hợp tinh bột. Trong một nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2020) đã xác định được một đột biến allelic mới của sh1 được tạo ra bởi tác nhân gây đột biến gen ethyl methanesulfonate (EMS), được gọi là sh1 *. Các đột biến sh1 làm mất hơn 90% hoạt động tổng hợp sucrose trong nội nhũ sh1 *, dẫn đến giảm đáng kể hàm lượng tinh bột trong khi lượng đường hòa tan tăng đáng kể. Kết quả đo lượng đường phosphoryl hóa cho thấy rằng sự mất chức năng của sh1 dẫn đến giảm đáng kể hàm lượng G-1-P trong sh1 * nội nhũ. Là nguồn trực tiếp tổng hợp tinh bột, việc giảm của Glc-1-P có thể làm giảm đáng kể lượng cacbohydrat dẫn đến tổng hợp tinh bột, cuối cùng góp phần đến các khuyết tật trong quá trình phát triển hạt tinh bột và giảm hàm lượng tinh bột.

 

Sinh tổng hợp amylopectin đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của các enzym bao gồm SSs, BE và DBE (Hannah, 1997; Whitt và cộng sự, 2002; James và cộng sự, 2003; Hannah và Greener, 2009; Jeon và cộng sự, 2010; Keeling và Myers, 2010). Thiếu BE enzyme trong ae1 dẫn đến sự tích tụ lên đến 50% amylose do sản xuất amylopectin ít hơn. Dạng đột biến gene waxy (wx) có kiểu hình nội nhũ ngô 100% amylopectin. Cả hai đột biến đã được sử dụng trong việc lai tạo ngô để tạo ra ngô có hàm lượng amylose cao hoặc thấp để thay đổi tính chất của tinh bột phục vụ cho các mục tiêu sử dụng khác nhau.

 

Hoạt động của DBE là cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp tinh bột. Ở ngô, bộ DBE hoàn chỉnh bao gồm 1 PUL1 (ZPU1) và 3 protein ISA được bảo tồn cao (ISA1, ISA2 và ISA3). ISA1, được mã hóa bởi Sugary1 (Su1), được cho là chịu trách nhiệm chính cho sự kết tinh và sinh tổng hợp amylopectin (Kubo và cộng sự, 2010). Gen sugary1 (su1) mã hóa một debranching enzyme của isoamylase. Đột biến su1 có nội nhũ có phân nhánh rất cao các phân tử phytoglycogen hòa tan trong nước và là cấu trúc tiền thân của các giống ngô ngọt (James và cộng sự, 1995; Dinger và các cộng sự, 2001). Mất chức năng su1 cũng dẫn đến sự thiếu hụt đồng thời trong hoạt động của zpu1 (Dinger và các cộng sự, 2003). Các đột biến su1 lặn là cơ sở của các giống ngô ngọt truyền thống (Zhang và cộng sự, 2019).

 

Đề tài đã triển khai đúng tiến độ, đạt kết quả tốt. Sản phẩm đạt yêu cầu về số lượng và chất lượng cụ thể như sau:

 

Đã đánh giá các tính trạng dinh dưỡng bao gồm tinh bột, protein, lipit và beta-caroten của các mẫu giống ngô địa phương Việt Nam (200 mẫu giống/1 nhóm tính trạng). Kết quả đánh giá cho thấy tập đoàn ngô địa phương Việt Nam có mức độ đa dạng cao về các tính trạng dinh dưỡng.

 

Trên cơ sở kết quả giải trình tự của 52 gen liên quan đến các các tính trạng dinh dưỡng chủ yếu của ngô, đã phát hiện 840 SNP, 181 InDel. So sánh trình tự của các gen với cơ sở dữ liệu NCBI, đã xác định được 172 alen hiếm trên 32 gen liên quan đến tính trạng chất lượng. Tổng số 52 trình tự của 167 alen hiếm trên 31 gen đã được đăng ký trên NCBI.

 

Đề tài đã thiết kế và thử nghiệm thành công 7 bộ chỉ thị phát hiện 7 alen hiếm của 7 gen đã được giúp nhận dạng alen hiếm trên một số gen liên quan 82 đến tính trạng chất lượng dinh dưỡng của tập đoàn ngô địa phương của Việt Nam

 

Kết quả đánh giá các tính trạng chất lượng dinh dưỡng, trình tự của các gen được giải mã cũng như SNP và InDel được nhập vào cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu trực tuyến về kiểu gen về chất lượng dinh dưỡng sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng phục vụ cho các nghiên cứu cơ bản và chương trình chọn tạo giống.

 

Đề tài đã xây dựng được tập đoàn hạt nhân về chất lượng dinh dưỡng bao gồm 82 mẫu nguồn gen ngô đại diện cho mức độ đa dạng cao về kiểu gen cũng như kiểu hình của tập đoàn ngô địa phương của Việt Nam.

Monday, July 24, 2023

Gen ứng cử viên “R3-MYB repressor Mybr97” và locus Anthocyanin3 của cây bắp

 Gen ứng cử viên “R3-MYB repressor Mybr97”  và locus Anthocyanin3 của cây bắp

Nguồn: Michael N. Paulsmeyer & John A. Juvik. 2023. R3-MYB repressor Mybr97 is a candidate gene associated with the Anthocyanin3 locus and enhanced anthocyanin accumulation in maize. Theoretical and Applied Genetics March 2023; vol. 136, Article number: 55 (2023); Published: 13 March 2023

 

Anthocyanin3 ức chế anthocyanin và chu trình monolignol trong cây bắp. Kỹ thuật “Transposon-tagging”, “RNA-sequencing”, và “GST-pulldown” xác định được anthocyanin3; nó có thể là protein  ức chế R3-MYB - gen Mybr97.

 

Anthocyanins là những phân tử màu sắcthu hút sự chú ý gần đây của chúng ta bởi vì những ích ích của nó đối với sức khỏe con người và những áp dụng như là những chất tạo màu tự nhiên (natural colorants) và dược phẩm nutraceuticals. Giống bắp tím đang được nghiên cứu ví nguồn vật liệu này rất kinh tế, cung cấp anthocyanins. Anthocyanin3 (A3) được biết là chất tăng cường thể lặn (recessive intensifier) của sắc tố anthocyanin trong cây bắp. Theo kết quả nghiên cứu này, hàm lượng anthocyanin được tăng lên gấp 100 lần trong cây bắp recessive a3.

 

Hình: Phổ biểu hiện anthocyanin trong hạt bắp (Peniche-Pavía et al. 2020).

 

Hai phương pháp tiếp cận được sử dụng để tìm thấy những ứng cử viên có trong cây bắp a3 intense purple. Thứ nhất, quần thể transposon-tagging quy mô lớn được người ta tạo ra với phân tử chèn đoạn Dissociation (Ds) ở cận gen Anthocyanin1. Một dòng đột biến de novo a3-m1::Ds được tạo ra, và phân tử chèn đoạn transposon này được tìm thấy định vị tại promoter của gen Mybr97, gen đồng dạng với gen R3-MYB repressor CAPRICE của cây mô hình Arabidopsis. Thứ hai, dùng quần thể “bulked segregant RNA-sequencing” để tìm thấy những khác biệt trong biểu hiện giữa pools của cây bắp green A3 và của cây bắp purple a3. Tất cả gen có trong sinh tổng hợp anthocyanin được định tính, chúng điều tiết theo kiểu “up” trong cây bắp a3 bên cạnh rất nhiều gen có trong chu trình monolignol. Gen Mybr97 điều tiết theo kiểu “down” trong cây bắp a3, cho thấy vai trò của nó là một regulator thụ động (negative regulator) trong chu trình anthocyanin. Biểu hiện gen liên quan đến quang tổng hợp bị giảm xuống trong cây bắp a3 thông quan một cơ chế chưa biết rõ ràng. Rất nhiều phân tử TFs (transcription factors) và các gen sinh tổng hợp cũng biểu hiện theo kiểu “up”, cần được nghiên cứu sâu hơn. Gen Mybr97 có thể ức chế sinh tổng hợp anthocyanin bởi gắn với phân tử protein TFs có mô típ helix–loop helix như Booster1. Nói chung, gen Mybr97 là gen ứng cử viên ưa thích nhất tại locus A3. A3 có ảnh hưởng khá sâu  trong cây bắp, hàm ý trong bảo vệ cây trồng, sức khỏe con người, và sản phẩm có màu sắc trong tự nhiên.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04275-4

Khám phá gen mới hỗ trợ chọn tạo giống cây trồng thích ứng khí hậu

Khám phá gen mới hỗ trợ chọn tạo giống cây trồng thích ứng khí hậu 

Các nhà nghiên cứu lần đầu tiên đã tiết lộ cách thức một gen quan trọng trong thực vật cho phép chúng sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, cho phép chúng phát triển nhiều rễ hơn và thu nhận được nhiều nước và chất dinh dưỡng hơn.

Một nhóm các nhà khoa học thực vật quốc tế do Đại học Penn State dẫn đầu và phối hợp với Đại học Nottingham đã phát hiện ra gen điều hòa mới này (được gọi là bHLH121) cho phép rễ cây ngô thu nhận được nhiều nước và chất dinh dưỡng hơn. Những phát hiện đã được công bố trong Proceedings of the National Academy of Science.

Gen này kiểm soát sự hình thành các khoảng không khí giữa các mô sống của rễ (được gọi là khí mô vỏ rễ). Việc thay thế một tỷ lệ lớn các tế bào rễ bằng các khoảng không giúp cây trồng tiết kiệm được rất nhiều năng lượng cần thiết để nuôi tất cả các tế bào rễ này. Điều này làm cho quá trình trao đổi chất của rễ trở nên hiệu quả hơn, cho phép chúng sử dụng các nguồn tài nguyên tiết kiệm được để hình thành nhiều rễ hơn và khám phá đất hiệu quả hơn, đồng thời thu được nhiều nước và chất dinh dưỡng hơn.

Các nhà nghiên cứu đề xuất phát hiện này có thể dẫn đến việc chọn tạo giống các loại cây trồng có thể chịu được hạn hán và điều kiện đất có hàm lượng đạm thấp, đồng thời giảm bớt tình trạng mất an ninh lương thực toàn cầu.

Rahul Bhosale, phó giáo sư về Bộ gen Chức năng Cây trồng từ Trường Khoa học Sinh học cho biết: "Việc xác định gen này và cách thức hoạt động của nó sẽ cho phép chúng tôi tạo ra các loại cây trồng dẻo dai hơn, có thể chịu được các điều kiện bất thuận về nước và dinh dưỡng do biến đổi khí hậu gây ra".

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng các công cụ hình ảnh sắc bén được phát triển trong nghiên cứu trước đây tại Penn State để đo nhanh các tế bào trong hàng nghìn rễ. Một kỹ thuật hình ảnh được gọi là Chụp cắt lớp Laser Ablation rất quan trọng đối với phương pháp này. Phương pháp hiện đại này hiện cũng có sẵn tại Đại học Nottingham.

Hannah Schneider, phó giáo sư Sinh lý học Cây trồng tại Đại học & Nghiên cứu Wageningen, Hà Lan cho biết: "Chúng tôi lần đầu tiên thực hiện các thí nghiệm đồng ruộng trong nghiên cứu này bắt đầu từ năm 2010, trồng hơn 500 dòng ngô tại các địa điểm ở Pennsylvania, Arizona, Wisconsin và Nam Châu Phi. Tôi đã làm việc ở tất cả những địa điểm đó. Chúng tôi đã thấy bằng chứng xác định được một gen liên quan đến khí mô vỏ não rễ".

Nghiên cứu này cho thấy rằng các dòng ngô đột biến thiếu gen bHLH121 cho thấy sự hình thành khoảng trống ở rễ bị giảm. Ngược lại, biểu hiện quá mức bHLH121 gây ra nhiều không gian hình thành hơn.

Việc mô tả đặc điểm của các dòng này trong điều kiện lượng nước và đạm dưới mức tối ưu ở nhiều địa điểm cho thấy gen bHLH121 cần thiết cho sự hình thành khoảng không khí ở rễ và cung cấp một công cụ mới cho các nhà chọn tạo giống cây trồng để chọn các giống có khả năng cải thiện việc hấp thu dinh dưỡng đất và do đó cho năng suất trong các điều kiện dưới mức tối ưu.

Giáo sư Jonathan Lynch, trưởng nhóm nghiên cứu tại Penn State cho biết: “Những phát hiện này là kết quả của nhiều người tại Penn State và hơn thế nữa là các cộng tác viên làm việc trong nhiều năm qua. Chúng tôi đã phát hiện ra chức năng của đặc điểm aerenchyma và sau đó là gen liên quan đến nó và aerenchyma ra đời nhờ các công nghệ đã được phát minh ở đây tại Penn State, chẳng hạn như Shovelomics - đào sâu vào lĩnh vực này về giải phẫu và Chụp cắt lớp Laser Ablation Đường ống dẫn. Chúng tôi tập hợp tất cả những thứ đó lại với nhau trong công trình này”.

Lynch cho biết kết quả rất có ý nghĩa, bởi vì việc tìm ra một gen đằng sau một đặc điểm quan trọng sẽ giúp thực vật có khả năng chịu hạn tốt hơn và hấp thụ đạm và lân tốt hơn sẽ xuất hiện rất nhiều trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Ông cho biết: “Đó là những phẩm chất cực kỳ quan trọng kể cả ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Hạn hán là rủi ro lớn nhất đối với người trồng ngô và đang trở nên tồi tệ hơn cùng với biến đổi khí hậu và đạm là chi phí lớn nhất để trồng ngô, từ cả góc độ tài chính và môi trường. Việc lai tạo các dòng ngô hiệu quả hơn trong việc thu gom chất dinh dưỡng sẽ là một bước phát triển lớn”.

  

Xác định locus đột biến liên quan đến khí mô vỏ rễ ở rễ ngô. (A) Hình ảnh bề mặt cắt ngang của chân răng được chụp bằng cắt lớp cắt bỏ bằng laser (LAT). (B) Các kiểu hình giải phẫu gốc được định lượng bằng phần mềm RootScan. (C) Sơ đồ Manhattan về kết quả GWAS đối với aerenchyma vỏ não. Ngưỡng ý nghĩa trên toàn bộ nhiễm sắc thể (đường nằm ngang) được đặt bằng phương pháp M đơn giản (−log10p = 5,32). Các SNP quan trọng nằm trong mô hình gen GRMZM2G083504 (ZmbHLH121) mã hóa yếu tố phiên mã ZmbHLH121. (D) Biểu hiện tương đối của ZmbHLH121 trong tấm bia và vỏ của rễ chính từ cây ngô 3 tuổi. (Thanh tỷ lệ, 100µm.).