CÂY NGÔ VIỆT NAM

Monday, July 24, 2023

Phân tích QTL-seq và hệ transcriptome về di truyền tính chống chịu lạnh của cây bắp

 Phân tích QTL-seq và hệ transcriptome về di truyền tính chống chịu lạnh của cây bắp

Nguồn: Ru-Yu He, Jun-Jun Zheng, Yu Chen, Ze-Yang Pan, Tao Yang, Yang Zhou, Xiao-Feng Li, Xinyi Nan, Ying-Zheng Li, Ming-Jun Cheng, Yan Li, Yang Li, Xu Yan, Muhammad-Zafar Iqbal, Jian-Mei He, Ting-Zhao Rong & Qi-Lin Tang. 2023. QTL-seq and transcriptomic integrative analyses reveal two positively regulated genes that control the low-temperature germination ability of MTP–maize introgression lines. Theoretical and Applied Genetics May 2023; vol. 136, Article number: 116

 

Hai gen ứng cử viên (ZmbZIP113 và ZmTSAH1) điều khiển tính trạng nẩy mầm hạt bắp trong điều kiện nhiệt độ thấp được người ta xác định thông qua kết quả chạy QTL-seq và phân tích hệ phiên mã tích hợp (integrative transcriptomic analyses). Kết quả xác định chức năng di truyền của hai gen này cho thấy có sự điều tiết tích cực  sự kiện hạt nẩy mầm được ở nhiệt độ lạnhcủa giống IB030.

 

Điều kiện nhiệt độ lạnh làm suy giảm hoạt động biến dưỡng của hạt bắp (Zea mays L.), kết quả là chồi non nẩy mầm rất chậm và cho ra những cây bắp non không bình thường, dẫn đến mất năng suất khá nặng. Do đó, cải thiện giống bắp có khả năng nẩy mầm dưới nhiệt độ lạnh LTGA (low-temperature germination ability) là cần thiết để tăng năng suất. Loài hoang dại gần gủi với giống bắp canh tác, như loài Z. perennis và Tripsacum dactyloides, biểu hiện tính trạng chống chịu lạnh rất mạnh, người ta có thể sử dụng nguồn vật liệu ấy để cải tiến LTGA của cây bắp. Theo một nghiên cứu trước đó, cầu nối di truyền MTP đã được thiết kế (từ giống bắp trồng, T. dactyloides, và Z. perennis) để có được dòng bắp dẫn xuất có LTGA cao – dòng bắp IB030 nhờ hồi giao. Kết quả thí nghiệm này, dòng IB030 (LTGA mạnh) và dòng Mo17 (LTGA yếu) được tuyển chọn thành bố mẹ của quần thể con lai F2. Bên cạnh đó, hai QTLs chủ lực (qCS1-1 và qCS10-1) được lập trên bản đồ di truyền. Sau đó, chạy RNA-seq cho kết quả hoàn thiện nhờ sử dụng hạt bắp từ dòng IB030 (nguồn cho) và giống tái tục là B73; nghiệm thức xử lý ở 10 °C thời gian 27 ngày; và nghiệm thức 25 °C thời gian 7 ngày, theo thứ tự, hai gen ứng cử viên (ZmbZIP113 và ZmTSAH1) điều khiển tính trạng LTGA được xác định vị trí nhờ kỹ thuật QTL-seq và integrative transcriptomic analyses. Kết quả minh chứng về chức năng di truyền của hai gen ứng cử viên nói trên điều tiết một cách tích cực tính trạng LTGA của dòng bắp IB030. Đáng chú ý là, dòng hóa gen đích theo hướng “homologous” (đồng hợp tử) cho kết quả nguồn biến dị của cả hai gen ấy có tính chất di truyền ổn định từ alen mục tiêu được du nhập vào dòng bắp trồng, từ loài hoang dại Z. perennis. Kết quả này còn phân tích được biến dưỡng LTGA của dòng IB030 và phân lập được các gen kháng phục vụ cải tiến di truyền của cây bắp, nó chứng minh được rằng sử dụng MTP genetic bridge (cầu nối di truyền từ bắp hoang sang bắp trồng) cho tính trạng mong muốn hoặc kiểu hình mong muốn từ loài hoang dại Z. perennis và tripsacum rất cần thiết phục vụ chương trình cải tiến giống bắp.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04362-6

Di truyền tính chống chịu kim loại nặng “chì” của cây bắp thông qua ZmNRAMP6

 Di truyền tính chống chịu kim loại nặng “chì” của cây bắp thông qua ZmNRAMP6

Peng Liu, Li Jiang, Ping Long, Qinglin Li, Fengxia Hou, Guangsheng Yuan, Zhong Chen, Minyan Zhang, Chaoying Zou, Guangtang Pan, Langlang Ma & Yaou Shen. 2023. A genome-wide co-expression network analysis revealed ZmNRAMP6-mediated regulatory pathway involved in maize tolerance to lead stress. Theoretical and Applied Genetics May 2023; vol. 136, Article number: 122 

Phân tử metal transporter ZmNRAMP6 được người ta xác định thông qua sử dụng phân tích hệ thống đồng biểu hiện tính trạng có liên quan ở mức độ “genome-wide”. Phân tử  ZmNRAMP6 liên quan đến độ nhiễm chì (Pb) của cây bắp thông qua sự tích tụ chì ở chồi thân. Tiến hành knockout gen ZmNRAMP6 nhốt Pb vô rễ bắp, kích hoạt các enzymes có tính chất antioxidant, và cải tiến được tính chất chịu Pb.

Chì (Pb) là một trong những ion kim loại nặng có độc tính dữ dội nhất (những pollutants), chì có thể xâm nhập vào tế bào thực vật thông qua hấp thu ở rễ rồi gây ra những tổn thương không thể đảo ngược được đối với con người thông qua chuỗi thức ăn. Muốn xác định gen chủ chốt có chức năng chống chịu Pb trong cây bắp, người ta tiến hành phân tích có tên chuyên môn là “trait-associated co-expression network” (hệ thống đồng biểu hiện tính trạng) ở mức độ toàn hệ gen, thông qua hai dòng bắp biểu hiện tính chống chịu chì, trái ngược nhau. Sau cùng, ngươi ta tìm thấy gen ZmNRAMP6 mã hóa protein có tên “metal transporter”; đó là gen chủ chốt trong module đồng biểu hiện tính trạng chống chịu Pb. Biểu hiện dị hợp của gen ZmNRAMP6 trong nấm men (yeast) đã minh chứng được vai trò của gen này trong vận chuyển Pb. Kết hợp kết quả biểu hiện mạnh mẽ trong cây Arabidopsis và cây bắp đột biến cho thấy ZmNRAMP6 có liên quan đến tính nhiễm của stress Pb bởi sự phân bố chì trong môi trường qua cơ quan rể và chồi thân bắp. Tiến hành knockout gen ZmNRAMP6 cho kết quả là giữ lại Pb trong rễ, và hoạt động của hệ enzymes có tính chất antioxidant, dẫn đến tăng cường tính chống chịu Pb của cây bắp. ZmNRAMP6 dường như vận chuyển Pb từ rễ đến chồi thân và môi trường. Tích hợp kết quả “yeast one-hybrid” và kết quả “dual-luciferase reporter assay” phát hiện ra rằng ZmNRAMP6 điều tiết một cách tiêu cực bởi  một yếu tố phiên mã ZmbZIP54 liên quan đến chống chịu chì. Kết quả knockout gen ZmNRAMP6 sẽ giúp cho việc xử lý sinh học đất bị ô nhiễm kim loại nặng và an toàn sinh học đối với cây cỏ làm thức ăn gia súc và cây bắp cho hạt.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04371-5

Sự điều khiển thông qua bộ gen của cây trồng

 Sự điều khiển thông qua bộ gen của cây trồng 

Sự đa dạng của thực vật về các tính trạng liên quan đến chọn giống như chiều cao cây, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh. Một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu cây trồng hiện nay là xác định sự khác biệt về thông tin di truyền có vai trò cho sự biến đổi này.

 

Một nhóm nghiên cứu về  "Năng suất cây trồng" tại Viện Sinh lý học Phân tử ở trường Đại học Heinrich Heine Dusseldorf (HHU) và Viện Khoa học Carnegie tại Stanford hiện đã phát triển một phương pháp để xác định chính xác những khác biệt đặc biệt trong thông tin di truyền.

 

Thí điểm trên cây ngô, họ chứng minh tiềm năng to lớn phương pháp trên tạp chí Genome Biology và các vùng hiện diện trong bộ gen của cây ngô làm tăng năng suất và khả năng kháng sâu bệnh trong quá trình chọn lọc giống.

 

Việc xác định cho tất cả các loài sinh vật được mã hóa dựa vào DNA của chúng. Điều này bao gồm các gen mã hóa protein và xác định các đặc điểm vốn có của sinh vật. Ngoài ra, còn có các vị trí quan trọng khác của DNA, đặc biệt là các vùng kiểm soát sự điều hòa của gen, nghĩa là khi dưới điều kiện nào và ở mức độ nào thì gen được kích hoạt.

 

So với các gen, mặc dù những vùng điều hoà này còn được biết đến như là “các yếu tố CIS" rất khó tìm. Những thay đổi chính xác về các yếu tố DNA này giữ vai trò chính cho sự khác biệt giữa các sinh vật và sự khác biệt của thực vật khác nhau …

 

Trong vài thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các vùng điều hoà là các vị trí liên kết của các protein đặc biệt. Được biết đến như là các yếu tố phiên mã, chúng xác định thời điểm và khoảng cách của các gen được kích hoạt.

 

Đồng tác giả, tiến sỹ Thomas Hartwig, người đứng đầu nhóm nghiên cứu Năng suất cây trồng tại Viện Sinh lý học Phân tử của HHU và Viện Nghiên cứu Nhân giống Cây trồng Max Planck (MPIPZ) ở Cologne cho biết: “Việc tìm ra một vài biến thể làm chìa khóa giúp thay đổi các tính trạng như khả năng kháng sâu bệnh giữa hàng triệu sự khác biệt trong bộ gen là rất khó khăn”.

 

Giáo sư, tiến sỹ Zhi-Yong Wang người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho rằng: “Không giống như các gen mã hóa protein, các vị trí điều hòa thường không thể được xác định chỉ dựa trình tự đơn. Điều này khiến chúng rất khó xác định chính xác. Phương pháp của chúng tôi sử dụng thực vật lai để đánh giá tác động trực tiếp của sự biến đổi trong trình tự DNA với liên kết yếu tố phiên mã”.

 

Nghiên cứu được phát triển với sự hợp tác của các nhà khoa học từ Viện Nghiên cứu Di truyền Thực vật và Cây trồng Leibniz (IPK) ở Gatersleben cũng như từ Đại học Nebraska-Lincoln và Đại học Bang Iowa, Hoa Kỳ.

 

Sử dụng giống lai, thế hệ thực vật đầu tiên (F1) được tạo ra bằng cách lai tạo hai giống, nhóm nghiên cứu có thể so sánh các vùng điều khiển khác nhau trên toàn bộ gen được liên kết trong toàn bộ gen. Đồng tác giả tiến sỹ Julia Engelhorn cho rằng: “Phương pháp phân tích của chúng tôi cho phép chúng tôi đo lường chính xác liệu các yếu tố phiên mã có liên kết nhiều hơn với bộ gen của bố, mẹ hay không”. Quy trình này cũng cho phép nhóm xác định hàng nghìn sự khác biệt liên quan đến các tính trạng, chẳng hạn như năng suất và khả năng kháng sâu bệnh ở ngô.

 

Công nghệ này đã được chứng minh yếu tố phiên mã brassinosteroid, một loại hormone liên quan đến sự tăng trưởng kéo dài của tế bào thực vật và chống chịu bệnh. Giám đốc viện, giáo sư, tiến sỹ Wolf B. Frommer cho biết: “Nhóm nghiên cứu đã xác định được hàng nghìn sự khác biệt trong hệ gen có thể giải thích tại sao một giống ngô có sự khác nhau về năng suất hoặc khả năng kháng bệnh. Hơn nữa, nhóm nghiên cứu có thể chỉ ra rằng những khác biệt này gần như tương đương nhau về mặt di truyền và ngoại di truyền (di truyền các thế hệ không thuộc gen)”. Sau đó mô tả các quá trình ảnh hưởng đến hoạt động của gen mà không được mã hóa trong chính chuỗi DNA.

 

Một kết quả đạt được của nghiên cứu là danh sách hơn 6.000 vùng gen có thể được nhắm mục tiêu trong chọn nhân giống cây trồng. Chúng có thể bao gồm các vùng thông qua các tính trạng tốt được thể hiện ở một số giống ngô nhất định mà các loại cây trồng khác không có.

 

Hartwig nói: "Biết được vị trí trong bộ gen ứng dụng trong công tác chọn giống, nhân giống hiện đại để chuyển các đặc điểm tính trạng từ một số giống này sang các giống khác có tầm quan trọng rất lớn trong công nghệ sinh học. Nghiên cứu của chúng tôi có thể đóng vai trò là hướng dẫn về cách tìm ra những vị trí mong muốn có lợi trong bộ gen”.

 

Giáo sư Frommer cho biết thêm: “Kết quả nghiên cứu đặt nền móng cho việc sử dụng các kỹ thuật hiện đại để tạo ra các giống ngô mới bằng cách kết hợp các tính trạng tối ưu mong muốn”.


Sự phân bố của mBZR1 bắt cặp liên kết với đoạn gen phiên mã. Tần xuất cực đại kéo dài của liên kết ZmBZR1 lên tới 10 kb lên hoặc điểm cuối của TSS hoặc TTS và vùng nội sinh, tương ứng. b ChIP-seq (giải trình tự ChIP) đã xác định được ZmBZR1 liên kết ở gần các mục tiêu giả định được giới hạn (BR6ox2/BRD1), cảm biến (IAA19) hoặc BR không được kiểm soát (CNX5). Đường màu đen hiển thị số lần đọc của ChIP BZR1 được chuẩn hóa (số lần đọc trên mỗi bộ gen, RPGC) và đường màu đỏ mô tả đối chứng hướng âm (anh chị em không chuyển gen). Các gen được mô tả bằng màu xanh lam, mũi tên đen chỉ hướng phiên mã. c , d Điều gây chú ý ZmBZR1 điểm gắn, BRRE (CGTG[C/T]G) và G-box (CACG[A/T]G) (c) BRRE được biết  chung vị trí tại vị trí TCP TF của  nhóm 1 (GG[ A/C]CCA) và (GTGGGC) nhóm 2 (d) được xác định bởi GEM. e Các mục tiêu trực tiếp và không trực tiếp của ZmBZR1. Hiển thị là sự chồng chéo của BZR1 ChIP-seq ( trình tự ChIP) và RNA-seq (trình tự RNNA) của đột biến brd1 thiếu BR +/− BR. f Bảo tồn các mục tiêu BZR1 giữa Arabidopsis và ngô (Arabidopsis orthologs). g Bảo tồn cây Arabidopsis và ngô (Arabidopsis orthologs) Các gen điều hòa tăng và giảm BR H Sự chồng chéo của các gen mục tiêu BZR1 phản ứng BR (B) và không phản ứng (N) chính thống (T) và các gen không phải mục tiêu (N) trong cây Arabidopsis (At) và ngô (Zm). Mã màu cho biết mức độ làm giàu gấp so với kỳ vọng ngẫu nhiên (màu xanh lam, mức độ làm giàu thấp đến màu đỏ, mức độ làm giàu cao). e Các số biểu thị p -giá trị có ý nghĩa của sự làm giàu này giả sử phân phối siêu hình học. i Sơ đồ nhiệt của các gen mục tiêu trực tiếp của BZR1 trong cây Arabidopsis và ngô do BR gây ra (màu xanh lá cây) hoặc ức chế (màu đỏ) ở ngô. Nhìn chung, 65% các ortholog 1:1 và 72% các ortholog 1:2 sao chép các mục tiêu BZR1 trực tiếp giữa Arabidopsis và ngô, tương ứng, cho thấy cùng một hướng quy định BR.

Tìm nguồn gen đích điều khiển kiến trúc hệ rễ cây bắp

 Tìm nguồn gen đích điều khiển kiến trúc hệ rễ cây bắp

Nguồn: Kunhui He, Zheng Zhao, Wei Ren, Zhe Chen, Limei Chen, Fanjun Chen, Guohua Mi, Qingchun Pan & Lixing Yuan. 2023. Mining genes regulating root system architecture in maize based on data integration analysis. Theoretical and Applied Genetics June 2023; vol. 136, Article number: 127

 

Người ta xây dựng một chiến lược mới tích hợp đa dữ liệu để cấu trúc nên mạng lưới đồng biểu hiện gen có liên quan đến rễ bắp. Người ta tìm nguồn gen đích (mining genes) điều khiển kiến trúc rễ bắp. Mạng lưới có tên “root gene co-expression” bao gồm tất cả 13.874 gen, từ big data. Có tổng cộng 53 root hub genes và 16 gen ứng cử viên ưu tiên tạo rễ được phân lập. Một gen ứng cử viên “priority root” được tìm thấy chức năng trong cây bắp chuyển gen biểu hiện mạnh mẽ gen đích.

 

RSA là kiến trúc hệ thống rễ (root system architecture) rất quan trọng cho năng suất và chống chịu stress. Trong cây bắp, rất ít gen RSA có chức năng được dòng hóa, và tím thấy có hiệu quả ; đây là ttha1ch thức rất lớn để tìm gen RSA. Công trình nghiên cứu này được tiến hành nhằm xây dựng chiến lược dò tìm các gen RSA của cây bắp thông qua sự tích hợp các gen có chức năng của rễ, hệ thống transcriptome của rễ, phân tích mạng lưới đồng biểu hiện gen đích WGCNA (weighted gene co-expression network analysis) và phân tích GWAS những tính trạng liên quan đến RSA trên cơ sở nguồn dữ liệu cộng đồng. Có 589 gen liên quan đến rễ được thu thập thông qua nghiên cứu  các gen đã được định tính rõ ràng hoặc các gen đồng dạng từ các loài cây khác. Người ta hoàn thiện WGCNA để xây dựng nên hệ thống “maize root gene co-expression” bao gồm 13874 gen trên cơ sở dữ liệu “root transcriptome”, họ đã tìm thấy 53 hub genes liên quan đến tính trạng rễ. Bên cạnh đó, thông qua mô phỏng toán dự đón mạng lưới gen đồng biểu hiện của rễ, có 1082 gen ứng cử viên mới của rễ đã được khái thác. Nhờ chồng lấp số liệu, gen ứng cử viên mới của rễ từ kết quả GWAS / gen ứng cử viên RSA, người ta thấy có 16 gen ứng cử viên ưu tiên cho rễ. Cuối cùng, gen ứng củ viên “priority root”, Zm00001d023379 (mã hóa pyruvate kinase 2), được minh chứng là điều chỉnh góc mở rễ và số lượng rễ mọc trên thân bắp thông qua phân tích dòng bắp transgenic có biểu hiện mạnh mẽ gen đích. Kết quả này phát triển phương pháp tích hợp nhiều phân tích để khai thác nguồn gen RSA của cây bắp, mở ra lộ trình mới dò tìm gen ứng cử viên liên quan d8e61n các tính trạng phức tạp.

 

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04376-0

Ảnh hưởng QTL qPss3 trong tính cảm quang và tính kháng bệnh stalk rot của cây bắp

 Ảnh hưởng QTL qPss3 trong tính cảm quang và tính kháng bệnh stalk rot của cây bắp

Nguồn: Feili Du, Yiyuan Tao, Chuanyu Ma, Mang Zhu, Chenyu Guo & Mingliang Xu. 2023. Effects of the quantitative trait locus qPss3 on inhibition of photoperiod sensitivity and resistance to stalk rot disease in maize Theoretical and Applied Genetics June 2023; vol. 136, Article number: 126

Người ta xác định được QTL có tên là qPss3, rồi tiến hành fine mapping locus ấy có độ lớn phân tử 120-kb trong hệ gen cây bắp. Locus này ức chế tính cảm quang nhở gen ZmCCT9 và ZmCCT10, tạo ra trổ bông sớm hơn 2 ~ 4 mà không làm giảmtính kháng bệnh thối thân (stalk-rot) ở bất cứ giống bắp nào.

Tính cảm quang (photoperiod sensitivity) là yếu tố quyết định sự thích nghi của cây bắp (Zea mays L.) đối với vùng canh tác có vĩ độ cao. Mặc dù có nhiều gen liên quan đến thời gian trổ bông đã được người ta phân lập trong cây bắp, nhưng không có gen nào ức chế được tính cảm quang. Trong nghiên cứu trước đây, các tác giả đã tìm thấy những khác biệt vô cùng lớn trong tính cảm quang trong số các dòng bắp cận giao với alen quy định tính cảm quang như nhau ở locus có tên ZmCCT10. Trong nghiên cứu này, họ sử dụng 2 quần thể con lai đang phân ly với cùng nền tảng di truyền, nhưng có những alen khác biệt ZmCCT10 nhằm hoàn thiện kết quả phân tích QTL (quantitative trait locus). Người ta phân lập được một QTL, qPss3, trên nhiễm sắc thể 3 của quần thể nói trên, chúng mang alen nhạy cảm quang ZmCCT10. Sau đó, họ thực hiện fine-mapping, cuối cùng xác định qPss3 trong quãng có độ lớn phân tử ~ 120 kb. Gen qPss3 là locus có tính trội, gây ra kết quả trổ bông sớm 2–4 ngày thông qua ức chế tính cảm quang bị kích hoạt bởi ZmCCT10 trong điều kiện ngày dài. Gen qPss3 còn ức chế tính cảm quang do một gen khác (liên quan đến trổ bông), đó là ZmCCT9. Ứng dụng kết quả này, người ta tạo ra dòng lai F1 dị hợp tử ở loci qPss3 và ZmCCT10 hình thành một sự kết hợp alen tối ưu, biểu hiện tính kháng cao với bệnh thối thân mà không làm kéo dài ra thời gain trổ bông. Hơn nữa, gen qPss3 có giá trị rất lớn  trong điều tiết thời gian trổ bông của giống bắp nhiệt đới khi trồng chúng ở vùng vĩ độ cao.

Xem https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-023-04370-6

Những thay đổi di truyền ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của ngô đối với điều kiện nhiệt trung bình và khắc nghiệt

 Những thay đổi di truyền ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của ngô đối với điều kiện nhiệt trung bình và khắc nghiệt 

Lê Thị Ngọc theo Phys.org

Khả năng chịu nhiệt của cây trồng rất quan trọng đối với khả năng phục hồi hệ thống lương thực của chúng ta đối với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu của Aaron Kusmec và cộng sự tại Đại học bang Iowa; Ames, Iowa, Hoa Kỳ, được công bố trên tạp chí PLOS Genetics, cho rằng chọn lọc tính trạng thông qua nhân giống cây trồng đã làm tăng khả năng chịu đựng của ngô đối với điều kiện nhiệt trung bình theo thời gian. Tuy nhiên, khả năng chịu đựng điều kiện nhiệt khắc nghiệt của nó đã giảm.

 

Ngô dễ bị ức chế nhiệt và nhiệt độ cao có thể làm giảm năng suất cây trồng. Tuy nhiên, sự thích nghi di truyền của ngô với nhiệt độ theo thời gian vẫn chưa được hiểu rõ. Để hiểu rõ hơn khả năng chịu nhiệt của ngô đã thay đổi như thế nào theo thời gian, các nhà nghiên cứu đã thu thập hồ sơ thử nghiệm năng suất được công khai trong 81 năm, trong đó có 4.730 giống ngô lai. Họ ghép nối dữ liệu năng suất ngô với hồ sơ thời tiết trong cùng khoảng thời gian. Từ dữ liệu này, họ đã xây dựng một mô hình ước tính biến thiên di truyền đối với phản ứng nhiệt độ giữa các giống ngô lai.

 

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng khả năng chịu đựng của ngô đối với điều kiện nhiệt trung bình đã tăng lên, nhưng lại làm giảm khả năng chịu đựng đối với điều kiện nhiệt khắc nghiệt. Ngoài nhiệt độ và lượng mưa, nghiên cứu bị hạn chế bởi các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn như điều kiện môi trường. Các nhà lai tạo cần có các nghiên cứu trong tương lai để hiểu rõ hơn về tiềm năng trong việc chọn giống thích ứng với nhiệt độ.

 

Theo các tác giả, "Bởi vì biến đổi khí hậu dự kiến sẽ làm tăng tỷ lệ điều kiện nhiệt khắc nghiệt nói riêng, những phát hiện này cho thấy sự cần thiết của các nghiên cứu sinh lý và di truyền chi tiết hơn về khả năng chịu nhiệt và sự kết hợp của chúng vào các nỗ lực nhân giống cây trồng. Họ cũng nhấn mạnh những thành công trong quá khứ của các nhà nhân giống cây trồng trong sự thích ứng của ngô với điều kiện nhiệt trung bình".

 

Các tác giả cho biết thêm: "Sử dụng dữ liệu trong hơn 80 năm về năng suất ngô được lưu trữ bởi các thư viện nghiên cứu ở định dạng bản cứng, chúng tôi phát hiện ra rằng các nhà nhân giống cây trồng đã tăng khả năng chịu đựng của ngô lai đối với điều kiện nhiệt trung bình, đồng thời vô tình làm giảm khả năng chịu đựng của nó đối với điều kiện nhiệt khắc nghiệt. Thật không may, tần suất điều kiện nhiệt khắc nghiệt dự kiến sẽ tăng lên do biến đổi khí hậu".

Sunday, March 19, 2023

THP9 làm tăng cường protein hạt bắp và hiệu quả sử dụng phân N

 THP9 làm tăng cường protein hạt bắp và hiệu quả sử dụng phân N

Nguồn: Yongcai Huang, Haihai Wang, Yidong Zhu, Xing Huang, Shuai Li, Xingguo Wu, Yao Zhao, Zhigui Bao, Li Qin, Yongbo Jin, Yahui Cui, Guangjin Ma, Qiao Xiao, Qiong Wang, Jiechen Wang, Xuerong Yang, Hongjun Liu, Xiaoduo Lu, Brian A. Larkins, Wenqin Wang & Yongrui Wu. 2022. THP9 enhances seed protein content and nitrogen-use efficiency in maize. Nature; Article; Published: 16 November 2022.

https://doi.org/10.1038/s41586-022-05441-2

 

Teosinte, tổ tiên hoang dã của cây bắp trồng (Zea mays subsp. mays), hàm chứa gấp ba lần lượng protein trong hạt so với giống bắp cận giao cải tiến và giống bắp lai, nhưng những cơ chế nào làm ra kết quả như vậy vẫn chưa được biết rõ. Ở đây, các tác giả công trình khoa học này sử dụng trio binning để tạo nên hệ thống “contiguous haplotype DNA sequence of a teosinte” (Zea mays subsp. parviglumis). Thông qua kỹ thuật “map-based cloning”, họ phân lập được một locus chủ lực mã hóa tính trạng hàm lượng protein cao trong  hạt bắp, gen TEOSINTE HIGH PROTEIN 9 (THP9), định vị trên nhiễm sắc thể 9. THP9 mã hóa một enzyme mang tên “asparagine synthetase 4” nó biểu hiện rất mạnh mẽ trong nguồn bắp teosinte, nhưng không có trong giống bắp cận giao B73, trong đó, một mất đoạn (deletion) ở phân tử intron số 10 của gen THP9-B73 gây ra “splicing” không chính xác của phân tử transcript THP9-B73. Kết quả biểu hiện transgenic của gen THP9-teosinte trong giống bắp B73 tăng lên đáng kể hàm lượng protein của hạt bắp. Du nhập gen THP9-teosinte vào giống bắp cận giao cải tiến và giống bắp lai cao sản đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tích tụ các amio acid tự do, đặc biệt là asparagine, trong toàn thân cây, và làm gia tăng hàm lượng protein hạt bắp mà không ảnh hưởng gì đến năng suất. THP9-teosinte dường như làm tăng hiệu quả sử dụng phân N (nitrogen-use efficiency: NUE), sự tăng hiệu quả này rất quan trọng để đạt năng suất cao trong điều kiện canh tác bón ít phân N.

 

Xem https://www.nature.com/articles/s41586-022-05441-2