CÂY NGÔ VIỆT NAM

Friday, January 14, 2022

2021. Lê Quý Tường. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô đường lai tại Hà Nội

 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ ĐƯỜNG LAI TẠI HÀ NỘI

Lê Quý Tường, Lê Quang Hòa, Nguyễn Thị Huyền Tâm  

DOWNLOAD 

Tóm tắt

Thí nghiệm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của 4 giống ngô đường lai được bố trí theo khối ngẫu nhiên đủ (RCB), 3 lần lặp lại, trong vụ Xuân 2019, Đông 2019 và Xuân 2020 tại Trạm Khảo nghiệm Giống, sản phẩm cây trồng Từ Liêm, Hà Nội. Kết quả đã tuyển chọn được giống ngô đường lai Hibrix89 có thời gian sinh trưởng ngắn ngày (105 ngày vụ Xuân và 111 ngày vụ Đông), thời gian thu bắp tươi 90 - 91 ngày; năng suất bắp tươi trung bình 154,76 tạ/ha, năng suất hạt khô trung bình 43,25 tạ/ha; ít nhiễm sâu đục thân, đục bắp (điểm 1), ít nhiễm bệnh khô vằn (9,2 - 10,4%), không nhiễm bệnh đốm lá lớn.

Abstract

The experiment for evaluation of the growth, development and yield of 4 hybrid sugar maize varieties was arranged in a completely randomized block (RCB), 3 repetitions, in Spring 2019, Winter 2019 and Spring 2020 at Tu Liem station for plant testing in Hanoi. As a result of the study, the hybrid maize variety Hibrix89 with short growth duration (105 days in the Spring season and 111 days in the Winter season) was selected; the harvesting time of fresh corn was 90 - 91 days; the average yield of fresh corn was 154.76 quintals/ha; the average dry grain yield was 43.25 quintals/ha; less infected with stem borers, corn borer (score 1), with arid (9.2 - 10.4%), not infected with big leaf spot.

 

 

 

Bệnh sọc lá bắp do virus ở châu Phi, tổng quan di truyền tính kháng

 Bệnh sọc lá bắp do virus ở châu Phi, tổng quan di truyền tính kháng

Nguồn: Mary EmeraghiEnoch G. Achigan-DakoChibuzo N. C. Nwaoguala & Happiness Oselebe. 2021. Maize streak virus research in Africa: an end or a crossroad. Theoretical and Applied Genetics December 2021; vol. 134: 3785–3803

 

Thiệt hại về kinh tế của bệnh siêu vi gây sọc lá bắp trong sản xuất bắp của châu Phi chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Sự lệ thuộc có tính chất liên tục của gen đơn có ảnh hưởng số lượng “quantitative trait locus” (QTL) có tên là gen Msv1 trên nhiễm sắc thể 1 của hệ gen cây bắp (Zea mays L.) không hề đảm bảo về tính kháng bệnh bền vững đối với pathogen này. Hơn 10 thập niên nghiên cứu về bệnh sọc lá siêu vi trên bắp, người ta ghi nhận cơ chế tính kháng của cây chủ, nó rất đúng trong tiếp cận với những phương pháp của tương lai để thu nhận kết quả chắc chắn thông qua xem xét vai trò tương trợ lẫn nhau (synergistic roles) của những QTL thứ yếu và QTL kháng trung bình, định vị trên nhiều nhiễm sắc thể khác nhau sao cho quản lý bệnh hại trở nên dễ dàng hơn trong hệ thống canh tác ở vùng cận Sahara (sub-Saharan Africa). Bài tổng quan này, người ta tập họp hơn 40 bài viết đã công bố, có liên quan đến bệnh sọc lá bắp (maize streak disease) được phân tích có hệ thống với khoảng 30% tham khảo chuyên đề có tính truyền thống, nội hàm phân tử và phương pháp chuyển nạp gen đích du nhập vào giống bắp trồng trọt, duy trì và cải tiến tính kháng bệnh sọc lá trên cây bắp. Kỹ thuật meta-analysis của phương pháp lập bản đồ QTLs liên quan đến tính trạng kháng bệnh sọc lá, được tiến hành qua một số dẫn chứng đối với tính chất phụ thuộc lẫn nhau hoặc tính chất đồng vị trí (co-localization) của những loci kháng bệnh. Kết quả này sẽ giúp cho việc quyết định đúng đắn trong chiến lược chọn giống nhờ chỉ thị phân tử. Với điều kiện biến đổi khí hậu toèn cầu, sự chuẩn bị của loài người trước sự kiện dịch tể học theo sau nó là quá trình tiến hóa nào đó đối với hệ gen của siêu vi gây sọc lá bắp được người ta xác định là không đầy đủ. Phương pháp chọn giống mới bao gồm tích tụ gen (chồng gen kháng) có thể được xem xét trong chương trình cải tiến giống bắp, đảm bảo tính kháng bền vững bên cạnh mục tiêu chọn tạo giống bắp chống chịu những stress phi sinh học, đặc biệt là khô hạn.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-021-03914-y

Chẩn đoán ẩm độ hạt bắp bằng NIR spectrocopy và mô phỏng SVM

Chẩn đoán ẩm độ hạt bắp bằng NIR spectrocopy và mô phỏng SVM

Nguồn: Michael J. BurnsJonathan S. RenkDavid P. EickholtAmanda M. GilbertTravis J. HatteryMark HolmesNickolas AndersonAmanda J. WatersSathya KalamburSherry A. Flint-GarciaMarna D. Yandeau-NelsonGeorge A. Annor & Candice N. Hirsch. 2021. Predicting moisture content during maize nixtamalization using machine learning with NIR spectroscopy.  

Theoretical and Applied Genetics Vovember 2021; vol. 134: 3743–3757

 

Thủy phần hạt trong giai đoạn nixtamalization có thể được người ta dự đoán chính xác nhờ  phương pháp sắc ký NIR spectroscopy kết hợp với mô phỏng của SVM (vector machine model.

 

Thiếu hệ thống đánh giá kiểu hình chất lượng cao trong xác định ẩm độ hạt bắp trong giai đoạn nixtamalization trong quá trình nấu nướng, điều này dẫn đến nội dung cải tiến giống bắp gặp nhiều khó khăn. Kết quả nghiên cứu cung cấp một phương pháp có độ chính xác cao (high-throughput), số liệu đo đếm ẩm độ hạt bắp trong giai đoạn nixtamalization dựa trên cơ sở chạy sắc ký NIR những hạt trần chưa nấu nướng. Người ta học cách sử dụng máy rồi phát triển ra thành những mô phỏng (models) do kết hợp số liệu NIR spectra và thủy phần hạt từ phương pháp nấu có thuật ngữ chung là scaled-down benchtop cook. Mô phỏng toán tuyến tính có tên SVM được viết tắt từ chữ support vector machine model với hệ số tương quan xếp theo thứ bậc Spearman là 0.852 giữa giá trị phòng thí nghiệm ướt và giá trị dự đoán của 100 mẫu giống bắp khác nhau được trồng ở ôn đới, thí nghiệm có lập lại ở 2 địa điểm khác nhau. Mô phỏng toán này được áp dụng trên hệ thống phổ NIR của 501 giống bắp ôn đới trồng lập lại tại 5 địa điểm khác nhau. Phân tích phương sai (ANOVA) cho thấy ảnh hưởng ngoại cảnh giải thích cao nhất  là 51.5%, theo sau là kiểu gen (giống) giải thích 15.6%, tương tác giữa GxE  giải thích 11.2%. Phân tích GWAS cho kết quả xác định được 26 loci có ý nghĩa thống kê đối với 5 môi trường, giải thích được 5.04% và 16.01% (trung bình = 10.41%). Tuy nhiên, những genome-wide markers chỉ giải thích được 10.54% đến 45.99% (trung bình = 31.68%) biến thiên kiểu hình, có nghĩa là kiến trúc di truyền của tính trạng này rất phức tạp, được điều khiển bởi nhiều loci có ảnh hưởng bé. Ngjiên cứu này cung cấp một phương pháp high-throughput để đánh giá ẩm độ hạt trong giai đoạn nixtamalization có tính chất khả thi trong ứng dụng ở mức độ cải tiến giống bắp, đồng thờ cung cấp nguồn thông tin quan trọng về các yếu tố tham gia vào biến thiên di truyền của tính trạng giúp nhà chọn giống bắp và doanh nghiệp công ty chế biến thức ăn từ bắp hoạch định những chiến luọc ttrong tương lai cải tiến tính trạng quan trọng này.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-021-03926-8