CÂY NGÔ VIỆT NAM

Wednesday, November 3, 2021

Di truyền tính trạng ẩm độ hạt bắp

 Di truyền tính trạng ẩm độ hạt bắp

 

 Nguồn: Wenqiang LiYanhui YuLuxi WangYun LuoYong PengYuancheng XuXiangguo LiuShenshen WuLiumei JianJieting XuYingjie XiaoJianbing Yan. 2021. The genetic architecture of the dynamic changes in grain moisture in maize. Plant Biotechnol J.; 2021 Jun;19(6):1195-1205.  doi: 10.1111/pbi.13541. Epub 2021 Feb 11.

 

Ẩm độ hạt thấp vào luc thu hoạch là điều kiện cần thiết để nông sản an toàn, phục vụ vận chuyển và tồn kho, nhưng kiến trúc di truyền của tính trạng này trên cây bắp (Zea mays) vẫn chưa được biết rõ. Công trình nghiên cứu này tiến hành qun sát động thái biến đổi ẩm độ hạt trên cơ sở bản đồ association từ nguồn tập đoàn 513 dòng bắp cận giao có đa dạng di truyền tại 5 giai đoạn, ở 5 địa điểm khảo nghiệm khác nhau. GWAS (genome-wide association study) cho thấy có 71 QTLs ảnh hưởng đến tính trạng ẩm độ hạt. Giá trị tương tác kiểu “epistatic” đóng vai trò chủ lực đối với biến dị của tính trạng ẩm độ hạt, cả những QTL chính ở giai đoạn hạt non đến giai đoạn hạt khô dần. Tương tác QTL và môi trường ảnh hưởng đến biến dị theo không gian và thời gian của tính trạng ẩm độ hạt, được hoạt hóa đầu tiên ở những thời điểm đặc biệt. Kết hợp phân tích quần thể di truyền với phổ biểu hiện transcriptome và chỉnh sửa gen, các tác giả công trình này đã xác định gen GRMZM5G805627 và GRMZM2G137211 là những gen ứng cử viên chỉ ra QTL chủ lực điều khiển tính trạng ẩm độ hạt bắp. Kết quả cung cấp những kiến thức về kiến trúc di truyền của những biến đổi cơ học về ẩm độ hạt bắp, giúp cho việc chọn tạo giống bắp dễ dàng hơn.

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33386670/

 


 

Di truyền tính chống chịu nóng của cây bắp

Di truyền tính chống chịu nóng của cây bắp

  

Nguồn: Zhaoxia LiStephen H Howell. 2021. Heat Stress Responses and Thermotolerance in Maize. Int J Mol Sci.; 2021 Jan 19;22(2):948.  doi: 10.3390/ijms22020948.

 

Nhiệt độ nóng gây stress nóng làm xáo trộn sinh lý bảo hòa của tế bào (cellular homeostasis) và gây tôn thưởng cho tăng trưởng và phát triển của thực vật. Tổn thất to lớn của nông nghiệp hiện nay do một phần của stress nóng, thường đi liền với những loại hình stress khác. Thực vật tiến hóa để phản ứng lại stress nóng để giảm thiểu sự thiệt hại và bảo vệ cây trồng khi stress ngày càng cực đoan. Một khung rất hẹp của nhiệt độ làm phân biệt sự khác nhau về tăng trưởng của stress nóng, khoảng biến thiên nhiệt độ ấy gắn với một điểm tăng trưởng tối ưu thường bị chồng lấp với stress nóng phát sinh ra. Stress nóng kích thích một phản ứng có thuật ngữ khoa học là HSR ở tế bào chất (cytoplasmic heat stress response) theo đó, protein HSFs (heat shock transcription factors) đóng vai trò yếu tố phiên mã làm tăng cường một chòm sao quy tụ các gen mã hóa protein HSPs (heat shock proteins). Stress nóng còn kích hoạt mạng võng nội chất (endoplasmic reticulum: ER) nơi mà protein không gấp cuộn phản ứng UPR (unfolded protein response), điều này hoạt hóa những yếu tố phiên mã điều tiết theo kiểu “up” thuộc một học protein khác với protein của những gen nói trên. Stress nóng còn hoạt hóa phản ứng của hormone và sự kiện RNA splicing luân phiên, tất cả đều có thể tham gia vào kết quả chống chịu nhiệt (thermotolerance). Stress nóng được nghiên cứu bởi thao tác cây trồng theo nghiệm thức tăng dần từng bước nhiệt độ; tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng: shock nhiệt bị phản ứng đều xảy ra trong điều kiện đồng ruộng được mô phỏng (simulated field) trong đó, nhiệt độ tăng chậm cho đến trung bình. Phản ứng stress nóng, được đánh giá ở mức độ phân tử, có thể được người ta ứng dụng như những tính trạng phục vụ nhà chọn giống tuyển chọn và sàng lọc tính chất chống chịu nhiệt (thermotolerance).

 

Xem : https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33477941/

 


Bắp giàu astaxanthin và sản xuất trứng “biofotified” chất lượng cao

Bắp giàu astaxanthin và sản xuất trứng “biofotified” chất lượng cao

Nguồn: Xiaoqing Liu, Xuhui Ma, Hao Wang, Suzhen Li, Wenzhu Yang, Ramdhan Dwi Nugroho, Lili Luo, Xiaojin Zhou, Chaohua Tang, Yunliu Fan, Qingyu Zhao, Junmin Zhang, Rumei Chen. 2021. Metabolic engineering of astaxanthin-rich maize and its use in the production of biofortified eggs. Plant Biotechnology Journal; 29 March 2021; https://doi.org/10.1111/pbi.13593

 

Sản phẩm giàu chất carotenoid astaxanthin, được áp dụng rộng rải trong lương thực và thực phẩm nhờ bản chất hoạt động mạnh mẽ của “antioxidant” và màu hạt. Điều này rất kém trong loài mễ cốc so với những cây mô hình khác. Ở đây, tác giả báo cáo một chiến lược mới đối với phổ thể hiện β-carotene ketolase và hydroxylase genes từ tảo, nấm men và cây hiển hoa cho sản phẩm là hạt sử dụng promoter có tính chất seed-specific bidirectional. Giống bắp do kỹ thuật di truyền tạo nên cho ra cây sự kiện được hồi giao với dòng bắp cận giao có nội nhữ màu vàng, nhằm tạo ra dòng con lai tích thụ nhiều chất astaxanthin hàm lượng 47.76 - 111.82 mg/kg DW trong hạt bắp, hàm lượng tối đa cao hơn gấp sáu lần những báo cáo trước đây (16.2–16.8 mg/kg DW) trong loài mễ cốc. Nghiệm thức cho gà đẻ trứng ăn hạt bắp này chỉ ra rằng chúng có thể hấp thu lượng astaxanthin từ hạt bắp rồi tích tụ vào lòng đỏ trứng (12.10–14.15 mg/kg) mà không ảnh hưởng gì đến sản lượng trứng và phẩm chất trứng, giống như quan sát nghiệm thức sử dụng astaxanthin từ Haematococcus pluvialis. Phân tích đánh giá tính ổn định khi tồn trữ cho thấy điều kiện tối hảo cho tồn trữ dài hạn hạt bắ giàu astaxanthin là 4 °C trong tối. Nghiên cứu cho thấy: đồng biểu hiện gen chức năng được điều hành bởi promoter có tính chất seed-specific bidirectional  có thể thúc đẩy đáng kể sinh tổng hợp astaxanthin ở mọi nơi trong hạt bắp bao gồm phôi mầm, tầng aleurone và nội nhũ tinh bột nhiều hơn các báo cáo trước đây chỉ có trong nội nhũ tinh bột mà thôi. Giống gbắp phát triển ổn định tương lai có thể là nhà máy rẻ tiền những sản xuất đáng tin cậy hàm lượng astaxanthin.

 

Xem: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/pbi.13593

 

 



 

Di truyền tính chống chịu mặn cây bắp

 Di truyền tính chống chịu mặn cây bắp

 

Hai vị trí “hub genes” là GRMZM 2G 075 104 và GRMZM 2G 333183 điều khiển tính chống chịu mặn, được người ta phân lập nhờ chạy GWAS và WGCNA. Người ta còn làm rõ được tính chống chịu mặn bởi ảnh hưởng của gen ứng cử viến nhờ phân tích di truyền theo nền tảng “association” thay vì liên kết gen. Stress mặn ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển cây bắp. MUốn hiểu rõ cơ chế di truyền tính chống chịu mặn và sự kiểm soát của những hub genes – một cách khai thác có ý nghĩa để có thể trồng được những giống bắp tại vùng đất bị mặn xâm nhập. Theo công trình nghiên cứu này, người ta sử dụng một tập đoàn giống bắp hổn hợp (association panel) bao gồm 305 dòng để xác định những loci di truyền phản ứng với Na+ và K+  ở giai đoạn cây bắp non. Dưới điều kiện stress mặn, bảy chỉ thị phân tử SNPs có ý nghĩa xác định được sử dụng trong GWAS, và 120 gen được phân lập bằng kỹ thuật quét qua vùng LDs (linkage disequilibrium) của những loci ấy. Theo cơ sở dữ liệu transcriptome của hơn 120 gen nói trên trong nghiệm thức xử lý mặn, người ta thực hiện kỹ thuật phân tích có thuật ngữ weighted gene co-expression network. Tích hợp kết quả chú thích gen, hai gen có liên quan đến SNaC/SKC (hàm lượng chồi thân Na+ / K+ ) là  GRMZM 2G 075104 và GRMZM 2G 333183 được phân lập lần sau cùng, giống như những hub genes điều khiển chống chịu mặn. Hai gen nay ngay sau đó được minh chứng chống chịu mặn ở giai đoạn cây bắp non bằng kỹ thuật phân tích gen ứng cử viên trong GWAS. Haplotypes TTGTCCG-CT và CTT được xác định bằng haplotypes giữa tính trạng favorable : tính trạng salt-tolerance đối với gen GRMZM 2G 075104 và GRMZM 2G 333183, theo thứ tự. Đây là những kiến thức mới về kiến trúc di truyền tính chống chịu mặn của hệ gen cây bắp, góp phần vào chiến lược canh tác bắp trên vùng đất bị nhiễm mặn.

 

Xem: https://link.springer.com/article/10.1007/s00122-021-03897-w

 


 

Hệ gen chức năng phối hợp ứng dụng chỉ thị phân tử có thể giúp chọn tạo giống ngô

  Hệ gen chức năng phối hợp ứng dụng chỉ thị phân tử có thể giúp chọn tạo giống ngô

 Đinh Thị Hương theo Phys.org

Trong nhiều thế kỷ qua, sự đa dạng vật chất di truyền của cây ngô, loại cây ngũ cốc phổ biến nhất trên toàn cầu, đã thu hút các nhà sinh vật học cũng như các nhà chọn giống cây trồng. Ban đầu, các nhà chọn giống đã chọn các dòng ngô có đặc tính tốt và lai tạo chúng qua nhiều thế hệ để phát triển thành các dòng ưu thế lai hoặc tạo ra các dòng lai có tính trạng như mong muốn: màu sắc hoặc kích thước hạt …

 

Các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng A188 mới được lắp ráp có thể đóng vai trò như một bộ gen tham chiếu mới để nhân bản các gen chức năng của các đặc điểm khác nhau ở ngô. Nguồn: The Crop Journal.

 

Nhờ những tiến bộ khoa học, ngày nay người ta đã biết rõ rằng biến động các tính trạng có liên quan tương ứng đến biến động kiểu gen và bất kỳ sự thay đổi nào trong "kiểu gen" đều có thể dẫn đến một "kiểu hình" mới. Các thao tác trên vật chất di truyền (gen) là yếu tố then chốt của chọn giống cây trồng hiện đại. Trong đó, nuôi cấy mô là một biện pháp được sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên phương pháp này bị hạn chế bởi hai yếu tố: Thứ nhất, không có sẵn trình tự bộ gen của các dòng để cho ra kiểu hình rõ rệt; thứ hai, khó khăn trong việc tạo mô sẹo từ phôi chưa trưởng thành trên môi trường nuôi cấy mô - bước đầu tiên của quá trình biến đổi di truyền.

 

Để giải quyết những trở ngại này, các nhà nghiên cứu từ Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên và Tập đoàn Gen Berry, Trung Quốc đã công bố trên tạp chí The Crop Journal về việc khai thác sức mạnh hệ gen chức năng của dòng ngô lai A188, quy định nhiều tính trạng khác biệt so với các dòng ngô khác và làm sáng tỏ mối liên hệ giữa kiểu gen và kiểu hình. Công bố của họ còn dựa trên một nhận định khác của Tiến sỹ Yaou  Shen, Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên, tác giả chính và là đồng tác giả của nghiên cứu cho biết: “Dòng ngô A188 có khả năng cảm ứng tạo mô sẹo tuyệt vời từ phôi chưa trưởng thành và do đó, họ đã tìm cách xác định các gen chức năng chính phù hợp với mục tiêu của mình”.

 

Đầu tiên, họ so sánh các dạng kiểu hình của A188 với các dạng kiểu hình của ba dòng ngô đối chứng khác là B73, Mo17 và W22. Sau đó, họ thiết lập thư viện gen của dòng A188 và cuối cùng, họ đánh dấu các yếu tố liên quan đến gen chức năng, so sánh các trình tự gen được đánh dấu của A188 với các trình tự của các dòng đối chứng.

 

Kết quả nghiên cứu rất khả quan, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng dòng ngô A188 có khả năng cảm ứng mô sẹo phôi hiệu quả hơn so với bộ gen của các dòng đối chứng và các dòng khác. Đồng tác giả nghiên cứu, tiến sỹ Langlang Ma cho biết, họ đã lấy vật liệu di truyền của dòng ngô A188 với kích thước là 2210Mb, sau đó gắn lên 1 đoạn N50 có kích thước 11.61 Mb. Đoạn N50 có kích thước dài hơn so với đoạn gen của dòng B73 là 9,73Mb và của dòng Mo17 là 10,2 Mb.

 

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy gần 30% gen A188 được lấy có cấu trúc rất khác so với các dòng ngô khác, dẫn đến sự khác biệt về protein và các biến dị kiểu hình ở A188. So sánh trình tự bộ gen với các bộ gen đã lấy, các nhà nghiên cứu đã xác định được 8 gen đa dạng về cấu trúc và 2 gen biểu hiện khác biệt là những nhân tố chính có thể xảy ra trong việc cảm ứng mô sẹo tạo phôi ngô.

 

Kết hợp những phát hiện này với nhau, các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng A188 mới được gắn có thể đóng vai trò như một bộ gen đối chứng mới để nhân bản các gen chức năng của các đặc điểm khác nhau ở ngô. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của A188 để đạt được hiệu quả biến đổi gen của ngô thông qua tạo giống chuyển gen.

 

Những phát hiện này đưa chúng ta tiến một bước gần hơn đến việc lập bản đồ di truyền của cây ngô và cách mạng hóa thị trường cho loại cây trồng hàng đầu thế giới.

Di truyền tính trạng chống chịu khô hạn cây bắp

Di truyền tính trạng chống chịu khô hạn cây bắp

Nguồn: Schulze WX, Altenbuchinger M, He M, Kränzlein M, Zörb C. 2021. Proteome profiling of repeated drought stress reveals genotype-specific responses and memory effects in maize. Plant Physiol Biochem. 2021 Feb; 159:67-79.

 

Khô hạn là stress gây thiệt hại chính cho năng suất nông sản vùng ôn đới, như Trung Âu. Do vậy, thông tin về cây trồng phản ứng với khô hạn như thế nào trở nên vô cùng quan trọng cho mục tiêu phát triển bền vững để phát triển bắp lai, có năng suất ổn định. Điều tiết có tính chất hậu phiên mã thông qua biểu hiện thay đổi protein vô cùng phong phú. Đây là một cơ chế sinh học quan trọng của phản ứng với stress ngay lập tức, chưa được khai thác bao nhiêu trong chiến lược cải tiến giống. Ở đây, các tác giả của nghiên cứu này  xem xét phản ứng đối với bắp cho phơi nhiễm trong điều kiện khô hạn mang tính chất lập lại của giống bắp lai nhiễm và chống chịu hạn để tìm hiểu cặn kẽ mức độ đa dạng protein tổng thể bị kích thích bởi khô hạn một lần hoặc khô hạn nhiều lần. Nhín chung, khô hạn ảnh hưởng đến mức độ phong phú protein từ nhiều chu trình trong thực vật. Người ta xác định biến dưỡng tinh bột, mức độ phong phú của aquaporin, PSII proteins và histones, đó là những yếu tố gắn kết chặt chẽ với kiểu hình cây bắp chịu khô hạn điển hình, ví dụ như sự phá vỡ màng tăng lên, điều tiết áp suất thẩm thấu hoặc ảnh hưởng của khí khổng đóng mở và mức độ đồng hóa sản phẩm quang hợp. Bên cạnh đó, người ta thấy rằng có một ảnh hưởng mạnh mẽ của khô hạn đối với khả năng đồng hóa dưỡng chất, đặc biệt là cơ chế biến dưỡng lưu huỳnh. Nhìn chung, kết quả xét nghiệm trước đây khi cho cây phơi nhiễm khô hạn từ nhẹ đến nặng đều dựa trên kết quả quan sát bằng mắt, kiểu hình biểu hiện giống như kết quả quan sát những thay đổi mức độ phong phú protein bây giờ.

 

Xem: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33341081/

 

Tăng diện tích trồng ngô để giảm phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu

  Tăng diện tích trồng ngô để giảm phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu

Những năm qua, diện tích trồng ngô ở nước ta liên tục sụt giảm sâu, nguyên nhân bởi ngô trong nước khó cạnh tranh so với ngô nhập khẩu. Tuy nhiên, với việc giá ngô nhập khẩu tăng tới 71,6% trong vòng nửa năm qua, các chuyên gia nhận định, đây sẽ là cơ hội cho nông dân trong nước thúc đẩy tăng diện tích trồng ngô, tăng thu nhập...

 

Tại hội thảo "Tìm giải pháp bổ sung nguồn cung cấp nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam" ngày 12/8/2021, các chuyên gia đồng tình cho rằng, để giảm áp lực phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập khẩu và giảm giá thành cần đẩy mạnh phát triển cũng như tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước, nhất là ngô để sản xuất thức ăn chăn nuôi.

 

Hội thảo diễn ra theo hình thức trực tuyến do Văn phòng Nông nghiệp, Đại sứ quán Hoa Kỳ (USDA) và Tổ chức CropLife Châu Á (CLA) đồng phối hợp với Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam (VIPA) tổ chức.

 

CHI HƠN 7 TỶ USD NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU 

 

Bà Sarah Gilleski, Quyền Tham tán Nông nghiệp tại Đại sứ quán Hoa Kỳ, cho biết hội thảo này tập trung vào việc chia sẻ các thông tin về nhu cầu, nguồn cung ứng, dự báo thị trường nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Đồng thời nhằm đánh giá các lợi ích và thách thức trong việc ứng dụng cây trồng công nghệ sinh học như một công cụ và cách tiếp cận đổi mới để tăng năng suất cây trồng, thu nhập cho người nông dân và bổ sung nguồn cung cấp thức ăn chăn nuôi cho thị trường trong nước.

  "Việt Nam trở thành quốc gia đứng số 1 Đông Nam Á về sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp. Theo dự báo, nhu cầu thức ăn chăn nuôi công nghiệp của nước ta sẽ cần khoảng 28- 30 triệu tấn/năm trong 5 năm tới, giá trị khoảng 12-13 tỷ USD với tỷ lệ tăng trưởng trung bình 11 – 12%/năm".

 

Hiệp hội Gia cầm Việt Nam

 

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch VIPA nhận định, trong 10 năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng rất ấn tượng, bình quân 5-6%/năm. Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam cũng đã tăng trưởng ngoạn mục, đạt bình quân 13- 15%/năm.

 

Tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp từ 10,8 triệu tấn năm 2010 đã tăng lên gần gấp đôi vào năm 2020, đạt 20,3 triệu tấn. Nếu tính cả thức ăn cho thủy sản thì tổng sản lượng thức ăn công nghiệp năm 2020 là khoảng 25 triệu tấn.

 

Mặc dù là nước sản xuất và xuất khẩu lương thực nằm ở Top đầu thế giới, song ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp nước ta vẫn phải nhập khẩu 70-85% nguyên liệu.

 

Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi năm 2020 lên tới 7,162 tỷ USD với lượng trên 20 triệu tấn. Trong 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đã là 3,903 tỷ USD, tăng 55% so với cùng kỳ năm ngoái.

 

Nguyên nhân lượng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lớn như vậy và không ngừng gia tăng là do mỗi năm, ngành nông nghiệp trong nước chỉ có thể cung cấp tối đa 4,5 -5 triệu tấn ngô hạt, 4 triệu tấn cám, 4 triệu tấn sắn làm thức ăn chăn nuôi, trong khi nhu cầu hàng năm cần tới 26-27 triệu tấn các loại, chủ yếu là ngô, đậu tương, lúa mỳ, dầu động thực vật…

 

Trong đó, ngô là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi về cả khối lượng lẫn giá trị.

 

Đại diện Hội đồng Ngũ cốc Hoa Kỳ, cho biết những nước đang cung cấp ngô và đậu tương trên thế giới cũng là các quốc gia hàng đầu về canh tác và sản xuất cây trồng biến đổi gen.

 

Hiện tại, sản lượng ngô biến đổi gen đang đóng góp khoảng 75% nguồn cung ngô trên toàn cầu. Trên thị trường thế giới, không phân biệt đâu là ngô được sản xuất từ giống thông thường hay giống biến đổi gen.  

 

CƠ HỘI TĂNG DIỆN TÍCH TRỒNG NGÔ

 

Bà Đinh Thị Thu Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê cho hay, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2021, giá thức ăn chăn nuôi tăng 36,6%  so với cùng kỳ năm 2020.

 

Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thị trường quốc tế biến động tăng rất mạnh trong thời gian qua. Tại thị trường Chicago (Mỹ), 6 tháng đầu năm 2021, giá đậu tương tăng 65,64%; giá ngô tăng 71,6%; giá lúa mỳ tăng 24,41%...đã đẩy giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng theo.

 

Trước tình trạng giá nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi tăng quá cao gây khó khăn cho ngành chăn nuôi, các chuyên gia cho rằng, bên cạnh các giải pháp về chính sách thuế, thương mại, đã đến lúc Việt Nam cần có một chiến lược phát triển nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước một cách căn cơ, bài bản.

 

Theo đó, cần có nhiều giải pháp đồng bộ, mà một trong các giải pháp đó là phát triển các loại cây trồng ứng dụng công nghệ sinh học, trong đó có trồng ngô để tăng cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước.

 

Giá bán ngô hạt của các giống ngô đều như nhau, bình quân 5,3 triệu đồng/tấn. Nhờ tăng năng suất thu hoạch thêm 30,4% (tương đương tăng thêm 2,03 tấn hạt tươi/ha hay 1,27 tấn hạt khô /ha) khi so sánh với các giống truyền thống, nên thu nhập từ trồng ngô biến đổi gen tăng thêm 3,75 – 6,65 triệu đồng/ha.

  

Ông Trần Xuân Định, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Thương mai Giống Cây trồng Việt Nam chia sẻ, diện tích sản xuất ngô nước ta liên tục giảm kể từ năm 2015 đến nay.

 

Năm 2014 diện tích trồng ngô đạt 1.179 nghìn ha, nhưng đến năm 2020 chỉ còn 943 nghìn ha. Năm 2020, sản lượng ngô thu hoạch trong nước chỉ đạt 4,76 triệu tấn, trong khi khối lượng ngô nhập khẩu lên tới 12 triệu tấn, với kim ngạch 2,39 tỷ USD.

 

Theo ông Định, từ 2015 đến nay đã có 16 giống ngô biến đổi gen của 3 công ty được công nhận lưu hành tại Việt Nam, trong đó có 8 giống hiện đang được nông dân canh tác.

 

Hiệu quả kinh tế của ngô biến đổi gen qua điều tra nông hộ quy mô toàn quốc năm 2019: năng suất ngô biến đổi gen trồng tại Việt Nam đạt bình quân 8,72 tấn/ha/vụ; trong khi năng suất tổng hợp bình quân các giống ngô truyền thống đạt 6,69 tấn/ha/vụ.

 

Với diện tích canh tác ngô biến đổi gen khoảng 92.000 ha năm 2019 (chiếm 10,2% tổng diện tích trồng ngô), lợi nhuận ròng tăng thêm 17,95 – 30,38 triệu USD.

 

Tính theo lũy kế, từ năm 2015 đến 2019, nhờ canh tác ngô biến đổi gen, tổng lượng thuốc trừ cỏ sử dụng đã giảm bớt 134.760 kg (tương đương giảm 1,2% tổng lượng thuốc trừ cỏ sử dụng trong canh tác nông nghiệp trong giai đoạn này). 

 

Cũng trong giai đoạn này, nhờ canh tác ngô biến đổi gen mà tổng lượng thuốc trừ sâu sử dụng đã giảm bớt 62.075 kg (tương đương giảm 3,4% tổng lượng thuốc trừ sâu sử dụng trong canh tác nông nghiệp).

 

 “Hiện tại năng suất của các giống ngô lai truyền thống đã tới hạn, do đó, việc đưa vào sản xuất các giống ngô biến đổi gen với năng suất cao và khả năng chống chịu tốt hơn đồng thời mở rộng diện tích canh tác ngô sẽ là các giải pháp cơ bản để tăng sản lượng ngô sản xuất trong nước”, ông Định khẳng định.